Phong Trào Kháng Chiến Trịnh Minh Thế (16)

Chương XVI
TRÌNH MINH THẾ LẠI CỨU
NGÔ ĐÌNH DIỆM

Nếu Thủ Tướng Ngô Đình Diệm đã gặp rủi khi chấp chính, thì ông lại gặp may khi phải đương đầu với tai biến. Cái may ấy đã nằm sẵn trong con người Trình Minh Thế. Bản thân Thủ Tướng Diệm chắc cũng không ngờ rằng cá nhân Trình Minh Thế lại có cái duyên nợ khá sâu xa đối với ông. Có thể nói, không có Thế nhất định không có nền Đệ Nhất Cộng Hòa, mặc dù lúc Đệ Nhất Cộng Hòa ra chào đời, Thế đã không còn nữa.

Bị Bình Xuyên làm nhục đêm 28 tháng 4 năm 1955, Thủ Tướng Diệm còn chịu thêm một cái đấm thứ hai của Quốc Trưởngg Bảo Đại. Từ bên Pháp, Bảo Đại hoạt động nhịp nhàng theo Bình Xuyên, bằng cách đánh điện về Dinh Độc Lập, gọi Thủ Tướng Diệm gấp rút sang Pháp, nói là để “tham khảo ý kiến về tình hình rối ren trong nước.

“Chỉ nhìn thoáng qua việc này, ai cũng biết Bảo Đại muốn chơi trò “điệu hổ ly sơn”, dọn sạch Dinh Độc Lập cho Tướng Lê Văn Viễn vào ở. Chứ có lý nào một ông Quốc Trưởng lại ra lệnh cho người cầm đầu chính phủ của mình bỏ nước ra đi giữa lúc đang xảy ra nội loạn? Cho dù ông Quốc Trưởng ấy có hành động chính đáng tới đâu đi nữa, thì “tướng ngoài mặt trận vẫn có quyền không tuân lệnh vua”, có quyền bất chấp cái công điện đến không phải lúc.

Cho nên, hễ “còn nước thì còn tát”, Thủ Tướng Diệm chắc đã nghĩ thế nên triệu tập khẩn cấp một Hội nghị chính trị mệnh danh là “Hội Nghị các Chính đảng và Nhân sĩ Quốc Gia” tại Dinh Độc Lập vào hồi 10 giờ sáng ngày 29 tháng 4. Tuy trong tình thế lửa cháy này, Thủ Tướng Diệm cũng đã nhận được sự đáp ứng nồng nhiệt của tất cả những ai mà ông muốn gặp mặt. Người ta đếm đuợc tất cả 18 Chính đảng và Đoàn thể hiện hữu tại Miền Nam và 29 Nhân sĩ có tên tuổi. Thành thật mà nói, trong số các Chính đảng và Đoàn thể hiện diện kia, chỉ có 3 đoàn thế nổi bật hơn cả vì có thực lực. Đó là “Việt Nam Dân Xã Đảng” do Bí Thư Nguyễn Bảo Toàn đại diện, “Việt Nam Phục Quốc Hội” do Hồ Hán Sơn đại diện, và “Mặt Trận Quốc Gia Kháng Chiến Việt Nam” do cá nhân tôi đại diện. Trong thư mời họp, Thủ Tướng Diệm có nói rõ là ông bị Bảo Đại gọi sang Pháp trong một vài ngày sắp tới, và ông mong được biết ý kiến của mọi người rằng “ông có nên đi Pháp hay không?”

Trước khi tôi đi dự họp, Tướng Thế đã bàn bạc kỹ lưỡng với tôi về mọi vấn đề. Cho nên, giọc đường, tôi bảo riêng với Hồ Hán Sơn là người thay mặt Tướng Nguyễn Thành Phương rằng: “Hôm nay chúng ta phải dứt khoát với Bảo Đại, phải đặt vấn đề truất phế con người ấy đi. Nếu người ta đồng ý như vậy, thì mình ở lại bàn tiếp. Còn không, thì bỏ về ngay.” Hồ Hán Sơn vui vẻ gật đầu.

Tôi muốn tạm ngừng lại đây để giới thiệu vài giòng về Hồ Hán Sơn. Anh vốn quê quán Hà Tĩnh, vào Nam năm 1954, được Tướng Nguyễn Thành Phương đón tiếp vào hàng ngũ Việt Nam Phục Quốc Hội, rồi lại được giới thiệu lên Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc để nhận chức Đại Tá Cao Đài. Tướng Phương thấy anh là người trẻ tuổi lại có tài, nên chỉ định anh đứng ra cầm đầu một lớp Huấn Luyện Chính Trị cho các sĩ quan Cao Đài. Anh có tính nghệ sĩ ngông nghênh, nên trong khi dạy bảo “học trò” gồm toàn những người lớn tuổi và có địa vị, anh bất chấp hết mọi sự, với ai cũng gọi bằng “thằng” hết thảy, vì vậy mà vô tình gây ra bất bình chống đối ngấm ngầm. Anh lại có tính ở bẩn số một, không ai bằng, áo quần giày dép lôi thôi, bít tất thì dùng từ lúc mới mua cho tới khi rách bỏ, không hề giặt qua lần nào. Cho nên anh em sĩ quan Cao Đài sống chung một nhà với anh không sao chịu nổi, một hôm họ đợi cho anh vừa ra cổng hóng gió là họ “thủ tiêu” ngay đôi bít tất hôi hám kia cho xong. Lúc không tìm thấy đâu, anh la toáng cả lên, thiên hạ khúc khích cười.

Hồi còn ở trong chiến khu, một hôm tôi bắt gặp Tướng Thế ngồi tiếp chuyện một thanh niên lùn thấp, đầu tóc bờm xòm, ăn nói ngang tàng như trên đời chẳng biết có ai. Hỏi ra tôi mới biết đó là Hồ Hán Sơn, và tôi đã có bụng khi ghét. Nhưng tôi không ngờ anh là một nhân tài hiếm có, một người mà càng gần gũi bao nhiêu, tôi càng đem lòng thương yêu kính trọng bấy nhiêu. Thuở ấy, anh đã cho ra đời tác phẩm bất hủ của anh, nhan đề “Nghệ Thuật Chỉ Đạo Chiến Tranh”, tác phẩm đã làm say mê một Tướng lĩnh như Trình Minh Thế. Quả thật, tôi không thể tưởng tượng anh, với tuổi tác ấy, lại có thể sáng tác một cuốn sách chuyên bàn về binh cơ chiến lược, với cái giọng cứng rắn lão luyện như một cụ già 70, và như một kẻ từng trải bách chiến vậy. Tôi hơi ngạc nhiên thấy nơi trang đầu cuốn sách khô khan kia, cuốn sách chỉ dành riêng cho người ham mê chiến trận, lại có một bài thơ ướt át ca tụng mối tình “Chày tre cối đất” nơi thôn dã. Tôi hỏi lý do thì anh toe miệng cười mà bảo: “Thì chính vì nó khô khan, nên mình phải thêm chút ướt át, người ta mới đọc chứ.” Hóa ra là thế. Thời gian gần gũi hoạt động chung với nhau, tôi có khuyên anh nên cẩn thận trong cách cư xử đối với người chiến sĩ Cao Đài. Tôi bảo: “Anh sống ngay trong đoàn thể Cao Đài, mà anh quá sơ suất, không biết gì về tập quán của họ. Phải biết rằng người chiến sĩ Cao Đài phải vào ra sương gió suốt cả cuộc đời mới có được chút địa vị, chỉ hơn nhau một cấp cũng đã phải gọi bằng “Ngài”. Âý vậy mà anh lại mày tao với họ, thì là điều tối kỵ. Chẳng những thế, anh còn ngồng nghênh gọi ông Tướng Tổng Tư Lệnh của họ bằng “Anh”, thì quả thật anh quá vụng về và dại dột, tôi e cho anh sẽ khốn khổ về chuyện đó.” Tiếc thay, Hồ Hán Sơn vẫn tính nào tật ấy, và quả nhiên sau anh tan nát cả cuộc đời tài hoa, vì những xích mích thù hằn do cái tính ngông nghênh kia gây ra.

Nào có gì quá lắm đâu, chỉ có một lúc Hồ Hán Sơn bỗng nhiên bị thất sủng trong nội bộ, bị đưa về “an trí’’ tại đường Phát Diệm. Một hôm anh nhận lời mời đi ăn cơm với Bộ Trưởng Thông Tin Trần Chánh Thành, tức thì kẻ bộ hạ chung quanh coi như anh đã “đào ngũ”, tư thông với địch (vì lúc ấy Tướng Phương đang triệt để chống chính quyền). Họ bèn báo cáo với Tướng Phương. Ông này không kịp suy nghĩ kỹ, nghe theo lời chỉ nghị của các cấp, bắt Hồ Hán Sơn hạ ngục. Hôm Hồ Hán Sơn bị đưa ra xử trước một phiên họp cao cấp của Cao Đài tại số 195 đường Công Lý, tôi có được mời tham dự, mặc dù tôi là người ngoài. Cựu Bộ Trưởng Thông Tin Phạm Xuân Thái có lên tiếng bênh vực Hồ Hán Sơn. Riêng phần tôi, tôi đã cố sức cứu sống anh bằng một câu nói: “Cá nhân tôi không có quyền chen lấn vào vấn đề kỷ luật nội bộ của quý đoàn thể. Tuy nhiên tôi đã được mời tham dự buổi họp hôm nay, thì xin cho tôi được nói rằng, nếu quý đoàn thể có kết tội Hồ Hán Sơn, thì cũng xin cho anh ấy được hưởng trường hợp giảm khinh. Vì đây là một nhân tài mà đất nước rất cần dùng mai sau. Bằng mọi cách, chúng ta phải giữ nhân tài ấy lại. Tôi xin quý đoàn thể đừng nở thẳng tay mà uổng phí một người hiếm có trên đời.” Buồn thay, mặc cho Phạm Xuân Thái và tôi biện hộ, Tướng Phương vẫn hạ lệnh còng tay Hồ Hán Sơn, rồi sai lính áp tải anh trên xe Jeep, đưa anh về nhốt tại nhà giam Bến Kéo, Tây Ninh.

Tôi đã khóc ròng khi tiễn chân anh. Tôi không thể nào tưởng tượng Trung Tướng Nguyễn Thành Phương lại nở đối xử với anh đến nông nỗi ấy. Một thanh niên tài hoa, một con người đầy nhiệt huyết, nay bỗng chốc biến thành một thằng tù mặt mày hốc hác, miệng câm như hến, bị ngược đãi bởi chính ngay người anh em trước đây đã nức nở ca tụng mình. Anh có tội tình gì? Chẳng qua vì buồn rầu, bị đoàn thể nhất đán bỏ rơi, anh có nhận lời đi ăn uống tiếp xúc với người trong chính quyền, thì cũng chưa hẳn là cái tội đáng bị hành hạ tù đày. Anh là một thanh niên có nghệ sĩ tính, ít chú trọng tới những lắt léo nhỏ nhặt trong cuộc đời, Tướng Phương ít nhất cũng phải hiểu cho anh điều đó mà tha thứ.

Ngày 15 tháng 2 năm 1956, Thủ Tướng Diệm bất thình lình cử Tướng Văn Thành Cao cầm đầu Chiến dịch Bình Định Miền Đông, đặt Bộ Chỉ Huy ngay tại Tòa Thánh Tây Ninh. Đây là một ngón độc thủ của Chính quyền đối với Tướng Phương, là cái hậu quả tất yếu của việc Phương chống báng. Ông này vô cùng hoảng hốt lo sợ. Thừa dịp ấy, bí thư của ông là Trung Uý N.N.V, một người ít học nhưng nhiều tham vọng, lại sẵn có mối thù riêng với Hồ Hán Sơn từ thuở nào, nên không cần đợi lệnh thượng cấp, N.N.V. đem ngay Hồ Hán Sơn ra giết chết, rồi ném thây xuống giếng, lấp lại. Trước khi thọ hình, Sơn còn để lại nhiều bài thơ nghĩa khí trên vách nhà giam mà tôi không nhớ được. Chính Văn Thành Cao đã cho tôi biết tin sét đánh này, và cũng chính Văn Thành Cao đã chỉ cho tôi xem nơi Hồ Hán Sơn bị vùi dập. Cái chết oan ức này của người anh em họ Hồ đã là một trong các lý do khiến tôi phải gấp rút bỏ nước ra đi ngày 20 tháng 2 năm ấy, giữa lúc không ai ngờ tới. Ngay cả Văn Thành Cao và Nguyễn Thành Phương cũng chẳng hiểu tại sao tôi bỏ đi một cách vội vàng. Chỉ riêng với Tướng Phương là tôi có nói rõ ý quyết ra đi, nhân lúc tới dự buổi tiệc trà mừng Ngày Xuất Quân của Quân Đội Cao Đài được tổ chức hàng năm từ khi quân đội ấy được thành lập. Phương đích thân cầm tiễn chân tôi tròn trặn một ngàn bạc đổi sẵn ra tiền Miên để làm lộ phí. Vậy mà về sau, Bộ Trưởng Trần Chánh Thành lại xúi giục báo chí Saigon vu khống tôi “mang theo 30 triệu bạc, 10 chiếc xe hơi”, tôi nghỉ cũng thật thấm thía.

Việc Hồ Hán Sơn bị giết, tôi biết như trên, nhưng tôi cũng đành để bụng, và không nở trách Tướng Phương trong cơn bối rối, đã để xảy ra một tấn kịch đau thương. Năm 1961, em ruột Hồ Hán Sơn là H.M.H. bỗng tìm đến tôi hỏi dò chi tiết về cuộc đời anh mình, và xin ý kiến tôi để truy tố Tướng Phương ra trước Tòa án. Nhưng tôi hết lời khuyên giải, bảo rằng: “Ngày nay Tướng Phương đã là người ngã ngựa, dù có đem nội vụ ra trước công lý, thì anh Sơn cũng không còn nữa. Mà đánh kẻ ngã ngựa thì phỏng được gì?” H.M.H. bèn nghe theo tôi mà bỏ đi cái ý định báo thù cho người anh ruột.

Nhắc lại, tôi với Hồ Hán Sơn ngồi trên xe bàn thảo kỹ với nhau về đường lối và kế hoạch, xong đâu đấy mới cùng vào Dinh Độc Lập. Phiên họp được tổ chức tại Phòng Khánh Tiết chính, ở về phiá tay trái Dinh Độc Lập, từ ngoài cổng trông vào. Chúng tôi bắt gặp khá nhiều nhân vật tên tuổi đã tề tựu, trong số có các ông Nguyễn Bảo Toàn (Bí Thư Đảng Dân Xã), Đoàn Trung Còn (Tịnh Độ Cư Sĩ), Luật sư Hoàng Cơ Thụy (Phong Trào Tranh Thủ Tự Do), Luật sư Trần Thanh Hiệp, Luật sư Vũ Văn Mẫu, Giáo sư Phạm Việt Tuyền (Chủ Nhiệm báo Tự Do), Bùi Quang Nga, Huỳnh Minh Ý,v..v.. Ai nấy đều mang vẻ mặt trịnh trọng, lo nghĩ, trong khi ngoài vườn Dinh Độc Lập, đạn bích kích pháo của Bình Xuyên vẫn nổ đều đều, làm rung chuyển các cửa kính.

Đúng 10 giờ sáng, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm, với bộ quần áo bằng Sharskin trắng, tiến vào phòng họp sau tiếng hô của một nhân viên nghi lễ. Mặt ông nặng vẻ ưu tư, khác hẳn với gương mặt rạng rở thuở xưa, lúc ông vào thăm viếng chiến khu Liên Minh, ông mở lời cám ơn tất cả mọi người, rồi tuyên bố lý do như đã trình bày đại khái trong bức thư mời trước. Chỉ một vài câu vắn tắt, xong ông lại xin phép rút lui ngay “để quý Ngài được tự do thảo luận!” Cử tọa ngạc nhiên, bởi ai cũng tưởng Thủ Tướng Diệm sẽ cùng ngồi lại với các nhân vật chính trị để bày tỏ quan điểm của riêng ông đối với việc Bảo Đại gọi ông sang Pháp. Đây cũng là một bằng cớ cho thấy Thủ Tướng Diệm khá tôn trọng tinh thần dân chủ. Việc ông đi hay ở sau này là do đại chúng toàn quyền định đoạt, chứ ông không có ý định chi phối lập trường các đoàn thể cũng như các nhân sĩ có mặt.

Hội nghị bắt tay vào việc ngay tức khắc. Ông Nguyễn Bảo Toàn được bầu làm Chủ Tọa, và ông Phạm Việt Tuyền làm Thư Ký buổi họp. Tôi liếc thấy ai nấy đều chăm chỉ nghiên cứu bức thư mời của Thủ Tướng Diệm, và dường như người nào cũng chỉ có ý định sẽ thảo luận chung quanh đề tài “Nên hay không nên tán thành cho Thủ Tướng Diệm qua Pháp theo lệnh của Bảo Đại” mà thôi.

Tôi bèn “nổ phát súng” đầu tiên: – Thưa quý vị, tôi được chỉ thị của đoàn thể chúng tôi là Mặt Trận Quốc Gia Kháng Chiến Việt Nam, tới đây gặp quý vị không phải để nói chuyện về việc Cụ Thủ Tướng Ngô Đình Diệm có bổn phận hay không có bổn phận thi hành lệnh triệu thỉnh của Bảo Đại. Mà trái lại, tôi xin thẳng thắn đặt vấn đề là đã đến lúc chúng ta cần truất bỏ quyền hành của ông Quốc Trưởng vô dụng kia đi. Là vì ông ta đang làm một việc trái với nguyên tắc lãnh đạo quốc gia. Thử hỏi, thành phố Saigon đang có biến, dân chúng đang xôn xao lo sợ, tại sao ông Bảo Đại lại chọn ngay chính lúc này để bắt buộc Cụ Thủ Tướng phải bỏ nước sang tận bên Pháp xa xôi kia, để gọi là “tham khảo ý kiến?” Tham khảo cái gì? Phải chăng đây là mưu kế nhằm lật đổ Chính phủ này? Vậy tôi xin tuyên bố dứt khoát, nếu quý vị bằng lòng thảo luận việc truất phế Bảo Đại ngay bây giờ, thì tôi ở lại. Bằng không, tôi xin phép ra khỏi phòng họp này ngay.

Cả cử tọa bàng hoàng trước lời đề nghị cứng rắn của tôi. Hồ Hán Sơn không chậm trễ, lên tiếng phụ họa theo: – Nhân danh Việt Nam Phục Quốc Hội, chúng tôi đồng ý với Mặt Trận Quốc Gia Kháng Chiến, yêu cầu quý vị đừng bận tâm tới lệnh triệu thỉnh vô lý của Bảo Đại nữa, mà hãy đồng tâm làm một cuộc cách mạng, chấm dứt ngay vai trò của ông Quốc Trưởng Bảo Đại kia đi cho xong. Nếu đến ý kiến này không được hưởng ứng, tôi cũng xin rút lui ngay tức khắc.

Thế là hai anh em chúng tôi, kẻ tung người hứng, nhanh chóng chuyển cuộc họp đi sang một hướng khác mà không ai ngờ tới. Đáng chú ý ở chổ ông Nguyễn Bảo Toàn là người đầu tiên lên tiếng tán thành việc truất phế Bảo Đại, khiến các nhân vật khác không ngần ngại nối gót theo ông. Nên nhớ là hồi mùa hạ năm 1948, ông Nguyễn Bảo Toàn, Bí Thư Đảng Dân Xã (Hòa Hảo), đã là một trong số các lãnh tụ quốc gia bay sang Hồng Kông, xây dựng cái gọi là “Giải Pháp Bảo Đại”, sau khi Cao Uỷ Pháp Emile Bollaert lên tiếng tại Hà Đông, bày tỏ lập trường Pháp không muốn nói chuyện điều đình với Hồ Chí Minh nữa, và muốn giải quyết vấn đề Việt Nam với cánh quốc gia có uy tín. Ta có thể nói ông Nguyễn Bảo Toàn đã có công với giải pháp Bảo Đại, vậy mà nay chính ông lại mau chóng đồng ý phế bỏ Bảo Đại trước hết, thành thử các đoàn thể và nhân sĩ khác thấy không còn lý do gì để thắc mắc nữa.

Bầu không khí bỗng sôi nổi hẳn lên. Nhất là các đoàn thể hoặc tổ chức lâu nay vốn có lòng ủng hộ Thủ Tướng Ngô Đình Diệm thì lại càng bồng bột quá khích hơn ai hết. Từ chỗ thụ động, họ bước sang thế chủ động, hy vọng nhờ có chúng tôi đứng mũi chịu sào, họ sẽ trừ khử được một con “Ngoáo Ộp” từng làm Thủ Tướng Diệm quên ăn mất ngủ. ông Bùi Quang Nga, hiệu là Văn Ngọc, vừa hô to “Đả đảo Bảo Đại!”, vừa tuột giày, ném thẳng lên bức chân dung to tướng của Bảo Đại treo trên vách phòng Khánh Tiết. Tiếp đó, người ta đưa ý kiến triệt hạ ngay bức chân dung kia xuống, và người ta công cử cá nhân tôi đứng ra làm cái công việc tượng trưng, chấm dứt một triều đại, đánh dấu một khúc quanh lịch sử. Tôi được nhiều nhân vật – đáng chú ý nhất là Luật sư Vũ Văn Mẫu (ông Thủ Tướng cuối cùng của nền Đệ Nhị Cộng Hòa) – xúm nhau lại công kênh tôi lên vai họ, để triệt hạ bức chân dung quá sức đồ sộ của Bảo Đại. Bức chân dung ấy hàng ngày ngự trị trong Dinh Độc Lập, nói lên cái quyền tối thượng của một ông Quốc Trưởng bù nhìn hơn một lần đã đầu hàng cộng sản vô điều kiện, đã đem cả ấn kiếm nhà Nguyễn cúi đầu dâng cho tên cán bộ cộng sản Trần Huy Liệu ngày 23 tháng 8 năm 1945 tại cố đô Huế, rồi còn cố che đậy sự hèn nhát của mình bằng một câu nói hài hước “Thà làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ”, ông vua thoái vị ấy tưởng đã nằm chết dí bên Hồng Kông, nếu không nhờ các lãnh tụ quốc gia làm cho sống lại, để được Pháp điểm tô mày mặt đưa về nước hồi 1949, để cuối cùng chẳng làm nên trò trống gì cho quê hương xứ sở.

Tưởng cũng nên nhắc lại là mùa thu năm 1945, Bảo Đại quá khiếp sợ trước “thế lực tưởng tượng” của bè lũ Hồ Chí Minh, nên không dám có hành động nào khác hơn là đầu hàng cộng sản cho nhanh chống để được yên thân. Sau khi trao ấn kiếm cho tên Trần Huy Liệu (nguyên là một thành phần quốc gia đã bán rẻ linh hồn cho cộng sản) trong một buổi lễ vô cùng tủi nhục trước bao nhiêu tiếng khóc nức nở của Hoàng Thân Quốc Thích nhà Nguyễn, Bảo Đại bay ngay về Hà Nội, vui vẻ đóng vai “Cố vấn Vĩnh Thụy” cho đẹp lòng Hồ Chí Minh, bằng cách tham dự tất cả các cuộc hội hè do cộng sản tổ chức. Ông sống quá bình thản vô tư, cho đến nỗi anh em quốc gia rất lấy làm lo ngại cho tương lai ông. Họ âm thầm tìm cách cứu ông ra khỏi cái cảnh một thằng tù bị giam lỏng trong căn nhà bên cạnh bờ hồ Hoàn Kiếm. Lúc bấy giờ, nhà Lĩnh tụ Dân Chính là Nguyễn Tường Tam đang giữ chức Ngoại Trưởng trong Chính phủ Liên Hiệp quốc cộng, và ông Nghiêm Kế Tổ làm Thủ Trưởng. Hai nhân vật này kín đáo bàn bạc với nhau và nảy ra sáng kiến ngoại giao thần tình. Thừa lúc Hồ Chí Minh đang gặp khó khăn với Tướng Trung Hoa Dân Quốc là Lu Hán, họ Nguyễn và họ Nghiêm bèn đề nghị với Hồ Chí Minh là nên vận động cách nào cho “Cố Vấn Vĩnh Thụy” được Chính Phủ Trung Hoa của Thống Chế Tưởng Giới Thạch tự động mời sang Trùng Khánh, để gọi là “thắt chặt tình bang giao giữa hai nước.”

Hồ Chí Minh không khác nào kẻ đang “buồn ngủ gặp chiếu manh”, tức thì chộp ngay lấy đề nghị trên của ông Thứ Trưởng Ngoại Giao Nghiêm Kế Tổ, vì tự nghĩ rằng cá nhân họ Hồ không thể nào vác mặt sang Trùng Khánh, mà “Cố Vấn Vĩnh Thụy” thì có thể được tiếp đón dễ dàng. Biết đâu ông Cố vấn vô quyền kia sẽ giúp cho Chính phủ Hồ Chí Minh được Thống Chế Tưởng Giới Thạch “thông cảm” hơn mà bớt đi một số áp lực qua bàn tay Lu Hán. Hồ Chí Minh đâu có ngờ mắc mưu Nghiêm Kế Tổ. Nực cười hơn nữa, họ Hồ không ngần ngại nhờ ngay Nghiêm Kế Tổ phụ trách cho việc vận động với Chính Phủ Trùng Khánh để “Cố Vấn Vĩnh Thụy” chóng thi hành sứ mạng ngoại giao với nước láng giềng. Ta nên biết Nghiêm Kế Tổ vốn là một lãnh tụ quốc gia Việt Nam sống lưu vong gần suốt cả cuộc đời bên nước Trung Hoa, nói thạo Hoa ngữ không khác nào người dân bản xứ, và có rất nhiều bạn hữu thế lực trong Chính quyền Trung Hoa Quốc Dân Đảng. Đặc biệt họ Nghiêm lại có mối giao hảo đậm đà với cá nhân Thống Chế Tưởng Giới Thạch, được Thống Chế coi như một đồng chí ruột thịt.

Thế là hai ông Nguyễn Tường Tam và Nghiêm Kế Tổ bèn gấp rút nhờ ngay Tướng Lu Hán đứng ra dàn xếp nội vụ. Chẳng bao lâu, Hồ Chí Minh nhận ngay được công hàm của Chính phủ Trung Hoa, chính thức mời “Cố vấn Vĩnh Thụy” sang thăm Trùng Khánh, lại cung cấp luôn cả phi cơ đặc biệt cho Cố Vấn lên đường nhanh chóng. Điều hài hước trong vụ này là chính cá nhân ông Bảo Đại cũng vẫn ngây thơ tin tưởng rằng ông sắp phải thay mặt Hồ Chí Minh, đóng một vai trò ngoại giao với nước bạn. Chứ ông hoàn toàn không biết là có người đang bí mật giúp ông thoát khỏi cảnh ngục tù.

May mắn thay, mãi cho tới lúc máy bay cất cánh rồi, Hồ Chí Minh – một con cáo già đại gian đại ác – mới chợt tỉnh ngộ, mới ngây mặt ra mà ý thức rằng Bảo Đại ra đi phen này hẳn không bao giờ còn trở lại nữa. Càng nhận sự ngu ngốc của mình, Hồ Chí Minh càng nổi giận, đang đêm sai người đi lùng kiếm người tình cũ của Bảo Đại là L.L.H. đưa về Bắc Bộ Phủ, giao cho sứ mạng đuổi gấp theo Bảo Đại. L.L.H. được cấp một ngân khoản kếch sù, với chỉ thị minh bạch là “Bằng mọi cách, phải quyến rũ, mê hoặc, đem Bảo Đại trở về Việt Nam cho bằng được.”

Nhưng kế hoạch kia hoàn toàn thất bại. Vì khi người phụ nữ kia sang tới Côn Minh, thì Bảo Đại đã được đón về Trùng Khánh từ lâu rồi. Không làm xong sứ mạng, L.L.H. sợ bị tù tội, nên ở luôn lại xứ Trung Hoa, rồi lần mò về Hồng Kông làm nghề vũ nữ. Tới khi Pháp đã chiếm đóng Hà Nội, cô ta thảnh thơi về nước, đêm đêm tới các vũ trường, đem cái sứ mạng thủa xưa ra kể cho nhiều người nghe biết.

Về phần Bảo Đại, được ít lâu, cũng lại từ bỏ Trùng Khánh xuống Hồng Kông trú ngụ. Tới lúc này thì cuộc kháng chiến toàn quốc đã bùng nổ, Chính phủ Hồ Chí Minh rút về mạn biên giới Hoa Việt. Người Pháp thấy đã đến lúc nên đóng cửa rút cầu với phe cánh Hồ Chí Minh, nên Cao Ủy Pháp Emile Bollaert được lệnh lên tiếng rêu rao muốn điều đình với một chính phủ Việt Nam khác do người quốc gia cầm đầu. Khi lên tiếng như thế, Pháp đã nhìn tới con người Bảo Đại. Và báo chí bên Pháp bắt đầu đưa ra luận điệu phủ nhận việc Bảo Đại thoái vị hồi mùa thu năm 1945, coi việc ấy như một sự cưỡng bức dưới áp lực cộng sản. Và đương nhiên là Bảo Đại vẫn còn được coi như đang nắm giữ trong tay sự liên tục hợp pháp của chính quyền Việt Nam. Nhờ đó mà ‘‘Lá bài Bảo Đại’’ trở nên sống động. Trên lãnh thổ Trung Hoa, các lĩnh tụ Việt Nam lưu vong – kể cả ông Nguyễn Tường Tam và Nghiêm Kế Tổ là hai người đã trực tiếp cứu mạng Bảo Đại – đều tán đồng giải pháp mới. Còn bên phía Việt Nam, thì trong các phần đất do Pháp kiểm soát, người quốc gia đang lạc loài ngơ ngác, thấy ván bài Bảo Đại được Pháp tung ra thì vội vàng chụp lấy. Giữa mùa hè năm 1948, một số chính khách Việt Nam, hoặc tự động hoặc do Pháp âm thầm xúi dục, rủ nhau bay sang Hồng Kông tiếp xúc với Bảo Đại. Trong số những người này, trong Nam thì có Trung Tướng Nguyễn Văn Xuân (con cờ của Pháp), Nguyễn Bảo Toàn, Lưu Đức Trung, miền Trung có Nguyễn Khoa Toàn, Trần Văn Lý, Hà Xuân Tế, ngoài Bắc có Nghiêm Xuân Thiện, Trần Trung Dung,v…v…

Từ cuộc tiếp xúc sơ bộ kể trên đã đẻ ra một chính phủ mới mệnh danh là “Chính Phủ Trung Ương Lâm Thời Việt Nam” được thành lập vào khoảng tháng 8 năm 1948, và do Trung Tướng Nguyễn Văn Xuân cầm đầu. Để có một bộ mặt tượng trưng thống nhất, Thủ Tướng Nguyễn Văn Xuân đã dời tất cả các bộ sở từ Saigon ra Hà Nội, không quên mang theo một số xe cộ. Vì đất Bắc lúc bấy giờ hết sức nghèo nàn kiệt quệ, dân chúng mới rải rác hồi cư không tiền mua sắm, còn chính quyền thì không biết tìm đâu ra nhà cửa thích hợp để đặt bàn giấy. Thậm chí ông Tổng Trấn Nghiêm Xuân Thiện đã phải chiếm đoạt cả một trường nữ học tại đường Đồng Khánh để thiết lập Tổng Trấn Phủ. Còn Thủ Tướng Nguyễn Văn Xuân thì chiếm Bắc Bộ Phủ đối diện với nhà hàng Métropole, đem Trung Uý Lê Văn Kim theo ra Bắc làm Tùy Viên Quân sự. Nhưng chính phủ Nguyễn Văn Xuân chẳng có nhiệm vụ nào khác hơn là dọn đường cho Bảo Đại về nước chấp chính. Hơn một năm sau, tháng 10 năm 1949, khi mọi việc sắp đặt đã xong, Bảo Đại cảm thấy địa vị mình khá vững, nên mới từ Pháp bay về Việt Nam, nhập nhằng với cái danh nghĩa “Cựu Hoàng”, rồi giải tán Chính phủ Nguyễn Văn Xuân để tự mình đứng ra làm Thủ Tướng đầu tiên của triều đại mới.

Lúc đầu, dư luận ở các vùng Pháp chiếm đóng cũng có vẻ thuận lợi cho lá bài Bảo Đại. Nhưng chẳng bao lâu, Bảo Đại đã làm nản lòng quốc dân. Người quốc gia chống cộng thấy không thể trông mong gì nơi ông để xây dựng lại một nước Việt Nam độc lập. Ông quay ra sống bê tha lêu lổng, phó mặc việc nước nhà trong tay các ông Thủ Tướng kế tiếp như Nguyễn Phan Long, Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm, và cuối cùng là Bửu Lộc. Còn phần ông, thì luôn luôn ẩn mình trên thành phố Đà Lạt, rồi lại bỏ sang Pháp. Ông đã quá sức phụ lòng những người đã nỗ lực giúp ông tái xuất hiện trên chính trường Việt Nam, để xóa đi cái nhục đầu hàng cộng sản hồi năm xưa.

Tới khi cuộc chiến Việt Nam kết liễu bằng trận Điện Biên Phủ, nước nhà bị chia đôi, con người vô trách nhiệm kia lại còn gượng gạo đứng lên, đòi làm chủ Miền Nam một lần thứ hai nữa. Nhưng mộng ấy không thành, khiến ông đành tạm thời giữ cái hư vị “Quốc Trưởng”, bị cầm chân vĩnh viễn bên đất Pháp, và miễn cưỡng chỉ định nhà cách mạng Ngô Đình Diệm thành lập chính phủ mới, với tất cả sự bất mãn thù hằn. Thế cho nên, khi Thủ Tướng Ngô Đình Diệm cầm quyền, dù với thái độ khiêm cung thành tín “Thừa lệnh Đức Quốc Trưởng”, Bảo Đại vẫn không ngừng quấy phá nơi hậu trường, bằng cách ngấm ngầm xúi dục Bình Xuyên chống đối vũ trang, sai Tướng Nguyễn Văn Hinh chửi rủa ngày đêm, ra lệnh cho Tướng thân cận là Nguyễn Văn Vỹ âm mưu cướp chính quyền, lén lút mặc cả với Bình Xuyên để sắp đặt cho ông Lê Văn Viễn lên làm Thủ Tướng. Tự thủy chí chung, người ta thấy Bảo Đại không hề nghĩ gì tới số phận nước nhà trước cái hiểm họa cộng sản, mà chỉ mong thỏa mãn ý muốn riêng tư mà thôi.

Một con người như thế quả thật không còn xứng đáng nắm vai chủ chốt, mà bức công hàm triệu thỉnh Thủ Tướng Ngô Đình Diệm sang Pháp giữa lúc Bình Xuyên đang nổi loạn, quả là “Giọt nước làm tràn miệng ly”, không ai có thể chấp nhận được. Một cuộc cách mạng phải xảy ra. Và cuộc cách mạng ấy đã xảy ra tại Dinh Độc Lập ngày 29 tháng 4 năm 1955, Cho nên, khi cái khung hình gỗ nặng nề của Bảo Đại rơi đánh đùng một tiếng xuống nền Dinh Độc Lập, thì bao nhiêu gót giầy cùng dẫm lên giữa những tiếng la hét giận dữ.

Các sự việc trên đã diễn ra sau khi Hội Nghị bầu ra một “ỦY BAN CÁCH MẠNG”, sau đổi là “Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng”, rồi lại đổi tiếp là “Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng Quốc Gia”, thể theo ý kiến của một số nhân vật “yếu bóng vía”, cứ mãi lo sợ ỦY BAN CÁCH MẠNG kia sẽ đi theo con đường cực đoan không có lợi cho Chính quyền Ngô Đình Diệm. ỦY BAN CÁCH MẠNG sơ khởi được đặt dưới quyền lãnh đạo của 3 người, là Nguyễn Bảo Toàn, Chủ Tịch, Hồ Hán Sơn, Phó Chủ Tịch, và tôi, Tổng Thư Ký. Thêm một số Ủy Viên như Luật sư Hoàng Cơ Thụy, Luật sư Trần Thanh Hiệp, Cư Sĩ Đoàn Trung Còn, và Bà Đức Thụ, một người phụ nữ suốt đời hy sinh cho cách mạng. Ít lâu sau, người của chính quyền cố chen chân vào nắm thêm các ghế Ủy Viên như Cụ Huỳnh Minh Y, ông Nguyễn Hữu Khai chẳng hạn.

Trong bầu không khí tột cùng sôi nổi – có lẽ chỉ thấy xảy ra một lần duy nhất tại Dinh Độc Lập mà thôi – các diễn giả dần dần buông rơi hết mọi sự dè dặt buổi đầu, để trở nên nhiệt thành với cách mạng, và dơ tay tán đồng một cách nhanh chóng, dễ dàng, mọi ý kiến do tôi và Hồ Hán Sơn lần lượt đưa ra. Hội Nghị đã lưu lại cho lịch sử một Bàn Quyết Nghị nảy lửa gồm 3 điểm then chốt như sau:

1. Truất phế Bảo Đại.

2. Giải tán Chính phủ Ngô Đình Diệm.

3. Uỷ nhiệm Chí sĩ Ngô Đình Diệm thành lập Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời, tổ chức tổng tuyển cử, tiến tới chế độ Cộng hòa.

Có một điều đáng nói, là sau khi tuyên bố giải tán Chính phủ Ngô Đình Diệm xong rồi, các diễn giả đâm ra lúng túng, không biết dùng tước hiệu gì kèm theo cái tên của Cụ Ngô Đình Diệm, chả nhẽ lại gọi trống không thì khiếm nhã. Tôi bèn đề nghị hai chữ “Chí sỉ’’ và được cử tọa hoan nghênh. Kể từ đó, danh từ “Chí sĩ’’ kia thường được nhắc nhở trong dư luận. Tôi nhìn đồng hồ lúc ấy vừa đúng 5 giờ chiều. Nghĩa là cuộc họp đã kéo dài suốt 7 tiếng, được chính phủ cung cấp bữa ăn trưa đạm bạc bằng bánh mì thịt nguội và nước ngọt.

Bây giờ là lúc cử tọa đề nghị Chủ Tịch Nguyễn Bảo Toàn thân hành đi mời Thủ Tướng Ngô Đình Diệm xuống phòng họp để nghe kết quả. Khi Thủ Tướng nghe xong, tôi thấy mặt ông tái hẳn đi. Tôi chắc ông không ngờ cuộc Hội Nghị bất thường này lại quay hẳn sang một chiều hướng khác, dẹp tan cái chuyện “Thủ Tướng nên hay không nên đi sang Pháp”, và lôi kéo ông đi một bước quá xa như vậy. Thâm tâm ông chỉ muốn được khuyến cáo là có nên thi hành mệnh lệnh của Bảo Đại hay không mà thôi. Ai ngờ bây giờ chẳng những người ta không chịu để ông đi, mà người ta còn hất chân ông Quốc Trưởng, và giải tán luôn cái Chính phủ hiện hữu của ông, thì hỏi còn cái biến cố nào đáng ghê sợ hơn?

Thành thật mà nói, Thủ Tướng Diệm không thể không vui mừng khi hất đi được cái gánh nặng ‘‘Thừa Ủy nhiệm Đức Quốc Trưởn’’ trên vai, khi loại bỏ đi được một hình ma bóng quế luôn luôn đe dọa ông trong khi hành xử quyền hành. Tuy nhiên, hất cái gánh nặng kia đi, thì lại đèo lên vai cái gánh nặng mới khác của ỦY BAN CÁCH MẠNG, phải chịu quyền uỷ nhiệm của Cách Mạng trong những ngày sắp tới, thì còn biết xử trí làm sao đây? Cho nên, Thủ Tướng Diệm thoáng lộ vẻ đăm chiêu, và nói bằng một giọng trầm mặc: “Xin quý Ngài cho tôi được có thì giờ suy nghĩ kỹ về vấn đề trọng đại này!”

Tôi muốn thuật rõ các chi tiết trên đây để đánh đổ luận điệu ngu ngốc xuyên tạc của mấy ký giả Tây Phương cho rằng Thủ Tướng Diệm đã “sắp đặt” và đã dùng tiền bạc để mua chuộc các đoàn thể chính trị, nhằm “Đẻ” ra một cuộc cách mạng giả tạo để củng cố quyền hành. Sự thực cho thấy, Thủ Tướng Diệm không ‘‘Đẻ” ra được cái gì sốt cả, và ông Tướng Mỹ Edward Lansdale cũng chả đóng được “vai trò đạo diễn” nào trong sự thay đổi lịch sử, như bọn nhà báo Tây Phương đã xác quyết. Trái lại, Thủ Tướng Diệm bị đặt trước sự đã rồi, bị ép buộc đi vào con đường Cách mạng lật đổ Triều Nguyễn bằng Quyết Nghị lịch sử ngày 29 tháng 4 năm 1955. Cánh cửa cách mạng đã mở sẵn, Thủ Tướng Diệm chỉ còn bước qua bằng cuộc ‘‘Trưng Cầu Dân Ý” ngày 26 tháng 10 là xong ván bài Bảo Đại. Các nhà báo Tây Phương toa rập với bọn cộng sản Hà Nội, luôn luôn xuyên tạc và bôi nhọ Miền Nam, luôn luôn chối bỏ các biến cố lịch sử đương nhiên tại Miền Nam. Nhưng lịch sử bao giờ cũng là lịch sử, biến cố bao giờ cũng là biến cố từ lòng dân chúng Miền Nam phát ra. Và riêng tôi xin làm một chứng nhân, sẵn sàng đương đầu với bất cứ ai ngoan cố cho rằng cuộc Cách Mạng ngày 29 tháng 4 là một cuộc cách mạng giả tạo, là “sản phẩm” của chế độ Ngô Đình Diệm.

Mặc cho thái độ dè dặt thận trọng của Thù Tương Ngô Đình Diệm, Đài Phát Thanh Saigon tối hôm ấy cũng vẫn loan tin đầy đủ về cuộc Cách Mạng mới xảy ra. Họ cho thính giả nghe lại mấy đoạn thu băng về lời phát biểu của tôi và các diễn giả khác. Nếu đã biết Đài Phát Thanh Saigon không dám tự quyền loan tin nếu không được lệnh Chính phủ, thì cách thức loan tin đầy đủ như trên chứng tỏ Thủ Tướng Diệm đã mặc nhiên chấp thuận rồi. Ngoài Miền Trung, ông Ngô Đình Cẩn chưa hiểu rõ đầu đuôi, và cũng không thèm hỏi thăm tín tức nơi Chính phủ, tưởng lầm là Chính phủ Ngô Đình Diệm đã bị lật đổ mất rồi, nên vội vàng tổ chức một cuộc biểu tình vĩ đại, “truất phế’’ luôn chức Đại Biểu Chính Phủ của Nguyễn Đôn Duyến. Sở dĩ ông Cẩn làm như vậy là – theo như chính lời ông thuật lại với tôi – ông mong mõi ít nhất cá nhân ông cũng còn níu kéo lại một phần nào quyền hành tại Miền Trung khi Chính phủ Trung ương “không còn nữa”. Việc này đã gieo khá nhiều rắc rối cho Thủ Tướng Diệm, và để lại một số giai thoại buồn cười giữa ông Cẩn với Thủ Tướng Diệm. Ngày 15 tháng 6 năm 1955, tôi ra Huế thăm ông Ngô Đình Cẩn tại Phú Cam. Ông niềm nở đưa tôi vào vấn an Cụ Bà Ngô Đình Khả, và giới thiệu với Cụ Bà tôi là “bạn của anh Diệm con”. Sau đó, ông chính thức tiếp tôi với sự chứng kiến của ông ‘’Tân Đại Biểu” Nguyễn Đôn Duyến. Ông Cẩn vui vẻ thuật lại câu chuyện ‘‘Truất phế Nguyễn Đôn Duyến” như vừa kể trên, và ông cho hay “Anh Diệm mắng tôi như tát nước vào mặt”, vì đã vô tình “làm cách mạng” chống lại anh mình, ông cho tôi xem một số thư từ mà Thủ Tướng Diệm và ông cố Vấn Nhu viết riêng cho ông, với lời lẽ khiển trách rất nặng nề. Tôi không thể nín cười được.

Sang ngày 30 tháng 4, một cuộc tập hợp tự động của các giới nhân sĩ Saigon được tổ chức tại phòng Khánh Tiết Tòa Đô Chính. Các ông Nguyễn Bảo Toàn, Hồ Hán Sơn và tôi được mời ra thuyết trình về cuộc Cách Mạng ngày hôm trước. Cử tọa vô cùng kích thích, luôn luôn hoan hô tán thưởng. Lại thêm một màn triệt hạ tượng trưng hình ảnh Bảo Đại treo nơi phòng Khánh Tiết. Một đồng bào quá hăng say vác khung hình ném qua cửa, xuống mặt đường trước Tòa Đô Chính, may sao không gây thương tích cho người qua lại. Đồng bào lại yêu cầu được thấy mặt các Tướng lĩnh Trình Minh Thế, Nguyễn Thành Phương và Nguyễn Giác Ngộ, là những nhân vật lãnh đạo của các tổ chức Mặt Trận Quốc Gia Kháng Chiến Việt Nam, Việt Nam Phục Quốc Hội, và Việt Nam Dân Xã Đảng. Ba ông này liền xuất hiện một lượt, và được đón tiếp bằng một tràng pháo tay bất tận.

Tướng Nguyễn Thành Phường vốn có tham vọng riêng, nên đã thuyết phục Tướng Trình Minh Thế và Tướng Nguyễn Giác Ngộ, thừa dịp này đứng chung nhau thành một “HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO” bao trùm lên trên ỦY BAN CÁCH MẠNG. Tôi biết Tướng Thế bất đắc dĩ phải nghe lời ông Phưong, vì Tướng Thế đã đồng ý với tôi rằng chỉ một mình ỦY BAN CÁCH MẠNG do các đảng phái và nhân sĩ chính thức bầu ra mới có uy danh thực sự. HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO kia đã gây trở ngại cho chúng tôi không ít. Ông Nguyễn Bảo Toàn rất bất mãn, nhưng ông không dám bộc lộ ý kiến của mình. Cũng cái HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO kia đã gieo rắc sự nghi ngờ trong lòng Thủ Tướng Diệm, khiến chính phủ càng ngày càng ác cảm đối với Tướng Nguyễn Thành Phương và đưa ông tới chỗ suy bại sau này. Riêng tôi, tôi cũng không quan niệm được rằng cuộc cách mạng lại cần phải có một cơ cấu khác bao trùm lên trên, và bị điều khiển bởi các tướng lĩnh. Hơn nữa, cách mạng lại càng không thể tổ chức như một chính đảng với chi nhánh lan tràn khắp nước. Nhưng Tướng Nguyễn Thành Phương vẫn lợi dụng chỗ thân tình, ép buộc tôi và Hồ Hán Sơn làm áp lực với Chủ Tịch Nguyễn Bảo Toàn để thành lập thêm ra “Uỷ Ban Cách Mạng Nam Phần” do cha Phạm Như Phiên cầm đầu, và “Uỷ Ban Cách Mạng Saigon – Cholon” do ông Ngô Quang Châu làm Chủ Tịch. Mặc dù ỦY BAN CÁCH MẠNG trung ương đã có một Ủy Viên Phụ Nữ rất đắc lực và tận tụy là Bà Đức Thụ, sau đó cũng đã thành lập thêm “Uỷ Ban Cách mạng Phụ Nữ” đặt dưới quyền lãnh đạo của Bà Lê Thi Ân, ái nữ Cụ Lê Văn Giải và là bào tỷ của ông Lê Văn Đồng, về sau giữ chức Bộ Trưởng Canh Nông.

 

Đã thế, cá nhân Hồ Hán Sơn lại phạm thêm một lỗi lầm ngoại giao khác nữa đối với chính quyền, khiến bầu không khí càng thêm khó thở. Số là ngày mồng 3 tháng 8, Hồ Hán Sơn cùng đi với tôi vào Dinh Độc Lập thăm viếng xã giao Thủ Tướng Diệm. Câu chuyện đang vui vẻ, thì chợt Hồ Hán Sơn buột mồm nói với Thủ Tướng Diệm một câu đanh thép: “Xin Cụ cứ lo việc chính quyền, còn phần đại chúng thì xin cứ để mặc chúng tôi điều động.” Tôi chết sửng trong lòng trước câu nói quá sức vụng về này. Thủ Tướng Diệm sa sầm ngay nét mặt. Ông có thói quen khi ngồi tiếp khách thì chắp hai tay trước mặt, không bao giờ gác chân nọ lên chân kia hoặc dựa ngửa ra trên ghế. Và hễ gặp chuyện bất bình thì đôi mắt lộ nhiều lòng trắng như chẳng nhìn ai, và ông nói lảng sang chuyện khác ngay.

“Thôi, chẳng còn nghi ngờ gì nữa. Thế này thì rõ ràng là Uỷ Ban Cách Mạng manh tâm khống chế quần chúng, đặt chính phủ vào địa vị bù nhìn, rồi sẽ có ngày cướp đoạt chứ chẳng sai.” Tôi chắc Thủ Tướng Diệm đã nghĩ như thế. Hồ Hán Sơn vô tình vẽ ra trong đầu óc Thủ Tướng Diệm hình ảnh một Nguyễn Thành Phương “phản nghịch” mà chính quyền cần phải đối phó. Lúc trở về, tôi thẳng thắn cự tuyệt Hồ Hán Sơn về câu nói vô trách nhiệm của anh. Sơn biết lỗi, ngồi im thin thít.

Do những bất trắc vừa kể trên, mối liên lạc giữa chính quyền với Uỷ Ban Cách Mạng càng ngày càng căng thẳng đến độ nghẹt thở. Trụ sở Cách Mạng đặt tại số 25 đường Phùng Khắc Khoan (nhà riêng của Lai Hữu Tài, Cố vấn Bình Xuyên, bị chính phủ tịch thu và nhường cho Cách Mạng) bị cảnh sát bao vây, khiến tôi phải gọi ông Nguyễn Bảo Toàn cùng tôi đích thân can thiệp, câu chuyện mới yên. Nguyên Bảo Toàn chán nản, bỏ sang Phi Luật Tân một dạo, rồi âm thầm rút khỏi Uỷ Ban Cách Mạng. Hồ Hán Sơn cũng bị Tướng Nguyễn Thành Phương kéo về nằm yên một xó, chẳng hiểu vì sao. Chỉ còn một mình tôi miễn cưỡng chống đỡ tòa nhà đang suy sụp cho tới khi tôi bỏ nước ra đi.

Xin nói tiếp về cuộc họp nhân sĩ tại phòng Khánh Tiết Tòa Đô Chính hôm 30 tháng 4. Sau khi cử tọa biểu quyết xong một bản Quyết Nghị triệt để ủng hộ ỦY BAN CÁCH MẠNG, thì đồng bào giải tán. Còn phần chúng tôi thì rủ nhau đi bộ vào Dinh Độc Lập để thông báo cho Thủ Tướng Diệm biết các diễn tiến, nói đúng hơn là để giới thiệu với ông rằng lòng dân nay đã hướng về một phía, không còn muốn thấy nước nhà dây dưa gì với Bảo Đại nữa cả. Phái đoàn có cả các Tướng Nguyễn Giác Ngộ, Trình Minh Thế và Nguyễn Thành Phương đi theo.

Khi tới nơi vào khoảng 6 giờ chiều. Chúng tôi bắt gặp một số đông sĩ quan Quân Đội Quốc Gia ước chừng 50 người đang ngồi chật cả phòng khách ở từng dưới Dinh Độc Lập. Trên lầu, chúng tôi lại thấy Thiếu Tướng Lê Văn Tỵ đang ngồi trong một phòng khách nhỏ với một tướng lĩnh khác mà tôi không biết tên. Thấy hơi lạ, tôi bèn nhờ Đại Uý Tùy Viên Tạ Thành Long kín đáo đi dò xét tình hình xem tại sao Thủ Tướng Diệm lại định tiếp kiến một lúc quá nhiều sĩ quan như vậy. Tạ Thành Long tìm hiểu đuợc lý do, vội vàng hốt hoảng trở lại cho hay là Tướng Nguyễn Văn Vỹ (người cùng ngồi với Tướng Tỵ) đã thừa lệnh Bảo Đại cướp đoạt quyền binh trong tay Tuớng Tỵ từ lúc chiều, và được Tướng Tỵ cùng các sĩ quan kia hộ tống vào Dinh Độc Lập để cướp đoạt nốt quyền lãnh đạo chính phủ trong tay Thủ Tướng Diệm. Như thế có nghĩa là số người này hoàn toàn đồng lõa với Tướng Vỹ, kéo nhau vào đây tuy không gươm không đao, nhưng rõ ràng là muốn lấy số đông gây áp lực, bao vây Thủ Tướng Diệm như bao vây một con chim nhỏ để bắt buộc ông đằng nào cũng phải nhượng bộ, rời khỏi chính quyền. Cần nhắc lại rằng, Bảo Đại không những triệu thỉnh Thủ Tướng Diệm sang Pháp, mà còn đòi hỏi cả Tướng Lê Văn Tỵ cũng phải bỏ cả nhiệm vụ đi theo. Mặt khác, Bảo Đại đặc phong cho Tướng Nguyễn Văn Vỹ làm Tổng Tư Lệnh Quân Đội Quốc Gia, một điều mà các Tướng Trình Minh Thế, Nguyên Giác Ngộ và Nguyễn Thành Phương đã công khai phản đối bằng một quyết nghị chung. Hành động như trên, quả thực Bảo Đại đã vượt ra ngoài phạm vi thể chế buổi đương thời. Vì một chế độ với Quốc Trưởng, với Thủ Tướng, thì chức Tổng Tư Lệnh phải thuộc về tay Quốc Trưởng, còn người cầm đầu Quân đội chỉ có thể là Tổng Tham Mưu Trưởng mà thôi. Gia chí dĩ, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm khi lãnh đạo chính quyền với điều kiện “Thừa lệnh Đức Quốc Trưởng” tức là mặc nhiên đã là người thay mặt Quốc Trưởng một cách hợp pháp, và mặc nhiên nắm quyền Tổng Tư Lệnh tối cao. Vậy tại sao Bảo Đại còn phong chức Tổng Tư Lệnh cho Tướng Nguyễn Văn Vỹ nữa?

Khi nghe biết được biến cố trọng đại như trên, ai nấy bàng hoàng sửng sốt. Biết được người đeo lon Thiếu Tướng lạ mặt kia là Nguyễn Văn Vỹ, tôi liền nảy ngay ra ý kiến bắt ông ta tại chỗ. Tôi chỉ kịp bàn qua vài câu với các Tướng Trình Minh Thế và Nguyễn Thành Phưong, và cả hai ông đồng ý gật đầu cho tôi ra tay. Thế là tôi lặng lẽ tiến ra hành lang phía sau Dinh Độc Lập, khi tới chỗ phòng khách nơi ông Vỹ đang ngồi tư lự, tôi nhanh nhẹn rút khẩu súng Colt – 45 trong chiếc cặp ra, chĩa thẳng vào người Tướng Vỹ, ra lệnh: “Dơ tay lên! Không tôi bắn!”

Tướng Tỵ trông thấy trước, vội đứng ngay lên, và Tướng Vỹ cũng hoảng hốt đứng lên theo, hai tay dơ cao khỏi đầu. Tướng Tỵ liền liều mạng chạy lại ôm lấy tôi, năn nỉ can thiệp để cứu Vỹ. Nhưng tôi sợ ông ta thừa cơ đoạt súng, nên đưa tay trái gạt ông ra và bảo: “Việc này không liên hệ tới Thiếu Tướng, xin đừng làm trở ngại!” Mặt khác tôi gọi Hồ Hán Sơn và bảo: ‘’Hãy bóc hộ ga lông của ông này cho tôi!” Hồ Hán Sơn tức khắc thi hành theo lệnh, mà hai tay run lẩy bẩy, vì anh chỉ sợ tôi nóng giận nổ súng bắn nhằm anh. Một phóng viên ngoại quốc – nếu tôi nhớ không lầm là François Sully – không biết chờ chực từ lúc nào ngoài hành lang, đã nhanh nhẹn đẩy một chiếc ghế tới trước cửa, rồi nhảy phóc lên, bấm vội một bức ảnh duy nhất về cái khung cảnh Tướng Vỹ đang dơ hai tay đầu hàng, xong lại biến đi ngay tức khắc cũng vì sợ tôi bắn phải anh ta. Bức ảnh hiếm hoi này sau đã xuất hiện trên nhiều tờ báo ngoại quốc, đáng kể nhất là tờ LIFE, trong số phát hành hồi tháng 7 năm 1955, đã đăng một loạt những tấm hình sống động về việc tôi bắt Tướng Vỹ.

Thủ Tướng Diệm liền được báo tin. Ông tất tả chạy vào ôm lấy tôi ngay trước mũi súng, và hổn hển nói: ‘‘Tôi xin Ngài! Tôi xin Ngài đừng làm đổ máu tại đây ! Việc gì còn có tôi đây giải quyết, xin Ngài đừng nóng giận!” Miệng nói, tay ông dơ lên che chở cho Tướng Vỹ, rồi đẩy dần ông này ra khỏi gian phòng, đưa thẳng về chỗ ngủ của riêng ông ở đằng cuối Dinh Độc Lập trông ra đường Hồng Thập Tự. Tướng Lê Văn Tỵ bị tôi cưỡng bức ngồi yên một chỗ, còn các sỉ quan theo ông đang ngồi đợi dưới lầu đều không hay biết gì cả. Tướng Thế, Tướng Phương dùng điện thoại liên lạc về Hành Dinh, ra lệnh cho các đơn vị võ trang sẵn sàng ứng chiến. Phần tôi, ở cái thế “cưởi đầu voi dữ’’, tôi ra lệnh cho mọi người trong Dinh Độc Lập tuyệt đối không được xuất nhập.

 

Một lát sau, Thủ Tướng Diệm cho mời tôi và Hồ Hán Sơn vào gặp ông với Tướng Vỹ ngay tại phòng ngủ. Cả Tướng Lê Văn Tỵ cũng đi theo. Tôi khóa trái cửa phòng lại, và bỏ chìa khoá vào túi áo. Chúng tôi năm người ngồi chung quanh một bộ xa lông thấp nhô, trước giường nằm của Thủ Tướng Diệm trên đầu có treo Thánh Giá. Cuộc điều đình gay go bắt đầu. Tướng Vỹ thấy được Thủ Tuớng Ngô Đình Diệm ra tay che chở, thì lấy làm yên tâm lại tỏ vẻ cứng đầu, còn nuôi cái mộng sẽ quật ngược tình thế. Tôi vẫn giữ nguyên lập trường cứng rắn là bắt giữ ông đưa về Núi Bà giam giữ, vì ông đã đi ngược lại con đường cách mạng, âm mưu cướp quyền Tham Mưu Trưởng trong tay Tướng Lê Văn Tỵ giữa lúc đô thành đang có biến. Tôi quay hỏi Tướng Tỵ xem có phải như vậy không? Tướng Tỵ bẽn lẽn gật đầu xác nhận. Ông còn nói thêm là ông đã tự ý nhường quyền Tham Mưu Trưởng cho Nguyễn Văn Vỹ chiều nay, và ông với các sĩ quan tham mưu đã hộ tống Nguyễn Văn Vỹ vào Dinh Độc Lập theo lời yêu cầu của Nguyễn Văn Vỹ.

Tôi bèn nói với Tướng Lê Văn Ty: “Bây giờ xin Thiếu Tướng hay về đi, để lo việc điều khiển quân sĩ đối phó với tình hình. Quân không tướng như rắn không đầu, tôi nghĩ rằng Thiếu Tướng cần phải có mặt với họ!” Tướng Lê Văn Tỵ trả lời: ‘‘Tôi đã lấy danh dự một quân nhân bảo đảm cho Thiếu Tướng Nguyễn Văn Vỹ vào đây. Nếu Ủy

Ban Cách Mạng bằng lòng cho tôi về, thì cũng xin tha cho Tướng Vỹ về theo tôi. Còn nếu Cách Mạng quyết bắt ông ấy, thì tôi cũng xin tình nguyện ở lại!” Lời nói đầy vẻ phản động, chứng tỏ một cách minh bạch rằng Tướng Lê Văn Tỵ đã đứng hẳn về phe Nguyễn Văn Vỹ, phản bội Thủ Tướng Ngô Đình Diệm ra mặt. Tôi thật lấy làm buồn, nhưng không tiện đả kích thái độ phản nghịch trắng trợn ấy. Tướng Lê Văn Tỵ vừa nói tới “danh dự quân nhân”, khiến tôi tự hỏi không biết ông còn danh dự nào, khi ông đã in lìm khuất phục trước Nguyễn Văn Vỹ, tự tiện trao quyền Tham Mưu Trưởng cho Nguyễn Văn Vỹ mà không thèm đợi lệnh của Thủ Tướng?

Giữa cái tình thế giằng co ấy, ngoài kia đoàn quân Ngự Lâm Quân của Tướng Nguyễn Văn Vỹ cứ chốc chốc lại gọi điện thoại vào Dinh Độc Lập, yêu cầu được nói chuyện trực tiếp với ông Nguyễn Văn Vỹ, và chỉ với ông này mà thôi. Tướng Vỹ cầm máy lên, lấm lét nhìn tôi, rồi trả lời là: ‘‘Tôi đang hầu chuyện Thủ Tướng đây, không có việc gì đâu, anh em cứ yên tâm”, ông không dám nói thật rằng ông đang bị bắt giữ, nhưng Ngự Lâm Quân cũng đánh hơi biết ông đang lâm nguy mà chẳng hiểu tình hình ra sao, nên cứ gọi đi gọi lại mãi, làm cho bầu không khí càng thêm ngột ngạt.

Dư luận không hề được biết Tướng Nguyễn Văn Vỹ về Saigon cướp quyền có mang theo 2 Tiểu đoàn Ngự Lâm Quân để làm áp lực. Khi Tướng Vỹ bị tôi bắt, thì số quân kia của ông dàn ra bao vây chung quanh hàng rào Dinh Độc Lập – Đạo quân Phòng Vệ Dinh Độc Lập dưới quyền Đại Tá Vinh đã sẵn sàng trong cái thế chống cự. Tướng Thế biết được việc này, thì tức tốc gọi điện thoại về Tổng Hành Dinh Liên Minh, hạ lệnh cho Thiếu Tá Hồ Đức Trung phải gấp rút đang đêm qua Bình Quới Tây (nơi quân Liên Minh tạm thời hạ trại từ ngày về hợp tác), bảo Trung Tá Tư Lệnh Nguyễn Trung Thừa phải gấp dẫn quân vào Saigon có việc. Thiếu Tá Hồ Đức Trung đi tới cầu Thị Nghè thì bị lính canh của Pháp chặn lại, không cho qua cầu. Số lính này nói là có nhiệm vụ bảo vệ đài Phát Thanh ở trong vùng ấy (?), và cứng rắn không cho Thiếu Tá Trung đi qua. Ông này quay trở lại báo cáo với Tướng Thế lúc ấy đang ở trong Dinh Độc Lập theo dõi trường hợp của Nguyễn Văn Vỹ và sẵn sàng cứu tôi, nếu Vỹ quật ngược được tình thế. Tướng Thế lại hạ lệnh cho Trung: “Hãy mở đường máu mà đi!” Thiếu Tá Trung bèn dẫn một toán quân bản bộ võ trang hùng hậu trở lại cầu Thị Nghè, de dọa bọn lính gác cầu là nếu không cho ông qua, ông sẽ nổ súng! Bọn lính kia đành phải nhượng bộ. Trung Tá Nguyễn Trung Thừa bắt được liên lạc, bèn không chậm trễ dẫn quân Liên Minh về bố trí trên đường Trần Quý Cáp, ngay sau lưng toán Ngự Lâm Quân, theo y như lệnh của Tướng Thế ban ra. Đồng thời, Tướng Nguyễn Thành Phương cũng hành động như Tướng Thế, hạ lệnh cho một cánh

Quân Cao Đài nằm phục kích tại đường Phan Đình Phùng, hợp với Liên Minh làm thành hai lớp, bọc hậu Ngự Lâm Quân. Bị kèm kẹp giữa hai đối thủ, phía trước là quân Phòng Vệ Dinh Độc Lập của Đại Tá Vinh, phía sau là Cao Đài với Liên Minh, toán Ngự Lâm Quân thấy nguy, không dám mưu toan tấn công Dinh Độc Lập nữa, bèn lặng lẽ rút lui.

Sự thất thế của Ngự Lâm Quân đã phản ảnh qua thái độ mỗi lúc một thêm bi quan của Tướng Nguyễn Văn Vỹ. Ông này không còn trông đợi vào đâu nữa, nên cuối cùng đã chính thức chấp nhận đầu hàng Cách Mạng. Tới mãi lúc 3 giờ khuya, ông mới xin cho đem giấy bút để ông viết một bản Tuyên ngôn ngắn, tự nguyện từ bỏ hết mọi quyền hành chức chưởng do Bảo Đại ban cho, và tự nguyện gia nhập hàng ngũ cách mạng. Nắm được bản Tuyên Ngôn ấy, tôi vẫn chưa tin lòng Tướng Vỹ. Nếu thả ông ra về với Tướng Lê Văn Tỵ, thế nào ông cũng làm phản một lần nữa. Nhưng chả nhẽ cứ vì ông mà cầm chân mãi Tướng Lê Văn Tỵ thì sao tiện? Túng cùng, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm, Tướng Lê Văn Tỵ và tôi, đã miễn cưởng đi đến một thỏa hiệp khá lỏng lẻo buồn cười. Tướng Lê Văn Tỵ nhân danh Tham Mưu Trưởng (vô hình chung, nhờ Cách Mạng ông này đương nhiên lấy lại quyền hành) bảo đảm với Thủ Tướng Ngô Đình Diệm là “Ông Vỹ sẽ không làm phản”. Đến lượt Thủ Tướng Ngô Đình Diệm lại quay sang bảo đảm với tôi rằng  ‘‘Chính phủ sẽ xin chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu ông Vỹ làm phản”. Xong cái việc lủng củng này, tôi bèn quyết định phục chức lại cho ông Nguyễn Văn Vỹ mà suốt mấy tiếng đồng hồ điều đình, tôi vẫn chỉ gọi bằng “ông”. Tướng Vỹ đứng lên, tôi cầm mấy ngôi sao do Hồ Hán Sơn trao sang, đặt lên vai ông. Tội nghiệp thay, Hồ Hán Sơn kiếm mãi chỉ thấy có mỗi một chiếc ga lông mà thôi, nên hoảng hốt kêu lên “Chết cha rồi!” tôi cũng đâm luống cuống trước tình thế mỉa mai này. Tướng Vỹ thật là dở khóc dở cười. May sao, Hồ Hán Sơn chợt tìm thấy chiếc ga lông thứ hai nhét trong túi quần, bèn hớn hở cầm trao tôi để tôi làm cho xong công việc.

Chúng tôi ra khỏi phòng ngủ của Thủ Tướng Diệm thì đúng3 giờ rưỡi khuya. Phụ Tá Quốc Phòng Trần Trung Dung ghé tai tôi nói nhỏ là đã có triệu tập một cuộc họp báo quốc tế tại phòng Khánh Tiết trên lầu. Nói là “triệu tập báo chí”, nhưng thật ra báo chí quốc tế đã đánh hơi biết có “đại biến” từ lúc đầu hôm, nên sẵn sàng ngồi đợi kết quả. Tướng Vỹ được đưa ra trước mặt họ. Mặc dù bị tôi canh chừng sát nút, ông ta cũng đã khôn lanh “xì” ra một câu bằng tiếng Pháp với phóng viên hãng AFP: “Je suis pris” (tôi bị bắt). Tôi ngồi cạnh ông, ngay trên thành ghế, trao bản Tuyên Ngôn cho ông tự mình công bố. Ông tự biết thân phận mình, nên chỉ trả lời một số câu hỏi liên quan tới nội dung bản Tuyên Ngôn kia mà thôi.

Chúng tôi được Thủ Tướng Diệm mời dùng cơm khuya rồi mới ra về, đầu óc hãy còn căng thẳng. Tôi nhớ lại, hồi đầu hôm, khi Thủ Tướng Diệm còn giữ riêng Tướng Vỹ trong phòng để an ủi vỗ về, thì ông Cố Vấn Nhu đứng tì tay trên lan can nhìn ra con đường Hồng Thập Tự, nhẹ nhàng bảo tôi: “Anh nóng quá, anh làm to chuyện. Cụ thật khó giải quyết!” Tôi trả lời là tôi sẵn sàng hy sinh mạng sống như thế để làm sáng tỏ lập trường hợp tác của Liên Minh. Nếu Tướng Vỹ quật ngược được tình thế, thì tôi là người đầu tiên bị họ băm thây, chứ Chính phủ chẳng việc gì! Câu nói làm cho ông Nhu quay lại nhìn tôi, nở một nụ cười thật huynh đệ. Cả Hồ Hán Sơn cũng thế, cứ luôn miệng than thở: “Chết cha rồi”, khiến tôi bực mình gắt với anh: “Hãy im đi, đừng làm rối trí!” Quả thật là tôi khá rối trí vì sự can thiệp bất ngờ của Thủ Tướng Diệm. Có người đặt dấu hỏi là tại sao Thủ Tướng Diệm lại đi che chở cho một phần tử chống lại mình? Tôi không thấy có gì khó hiểu. Chẳng qua Thủ Tướng thấy rỏ ngay trong chốc lát rằng khi mà Tướng Vỹ đã phải dơ tay đầu hàng trước mũi súng của tôi, thì ắt là thế lực và uy tín cá nhân của ông ta chẳng còn gì. Bộ hạ ông ta không dám làm càn, bởi không muốn ông ta bị hạ sát ngay. Do đó mà Thủ Tướng tạm đóng vai quân tử đối với kẻ thù, để có thì giờ tìm một giải pháp êm đẹp, không gây ra đổ máu tại Dinh Độc Lập. Trong lúc ngồi điều đình, tôi thấy Thủ Tướng luôn luôn ngả theo các ý kiến của tôi, và cứ trông đợi nơi tôi một thái độ ít cứng rắn hơn. Thủ Tướng cũng không thể không nhận chân sự phản bội trắng trợn của Tướng Lê Văn Tỵ. Lẽ thường thì ông nên cách chức con người ấy đi, nhưng trong hoàn cảnh hiện tại, ông không làm như thế được, vì chẳng gì Tướng Tỵ cũng đã được quân binh mến mộ. Vả chăng, không có tướng lĩnh nào khác đáng được cử ra thay thế. Tướng Trình Minh Thế chăng? Lại càng không được nốt, vì Tướng Thế mới ở rừng về hãy còn xa lạ, không thể nhất đán cầm đầu Quân Đội Quốc Gia còn nhiều dấu tích do Pháp để lại. Tôi biết rõ hoàn cảnh khó khăn của Thủ Tướng, nên ngay buổi sáng hôm sau, nhân bữa tiệc rượu mừng Chính phủ thoát vụ “Đảo chính hụt” của Nguyễn Văn Vỹ hồi gần sáng, tôi và Trình Minh Thế đã thưa riêng với Thủ Tướng Diệm và ông Cố vấn Nhu rằng trường hợp của Tướng Lê Văn Tỵ chỉ nên “thăng” chứ không nên “cách”. Tôi viện lý lẽ rằng Tướng Tỵ chưa được hưởng ân huệ gì đặc biệt của Chính phủ, nay thế nào cũng ôm mối lo sợ vì thái độ phản nghịch quá lộ liễu trong đêm hôm trước. Đã không bị cách chức mà còn được thăng cấp, ông ta sẽ lầm tưởng rằng Chính phủ không trông thấy gì, và sẽ yên tâm mà phục vụ. Thủ Tướng nghe theo, và quả nhiên chỉ mấy hôm sau, Tướng Lê Văn Tỵ được vinh thăng Trung Tướng. Bên ngoài ai cũng tưởng ông ấy lập được nhiều công! Quân Đội Quốc Gia nhờ sự dàn xếp khôn ngoan đó mà tránh được một cơn khủng hoảng nội bộ.

Tôi cũng hơi lấy làm lạ rằng chỉ một khẩu súng nhỏ của tôi đã làm tê liệt cả Dinh Độc Lập. Lệnh “Cấm xuất nhập” được triệt để thi hành. Phía chính quyền biết tôi liều mình cứu họ, nên đã âm thầm hợp tác chặt chẽ. Phụ Tá Quốc Phòng Trần Trung Dung thân hành điều binh khiển tướng đâu ra đấy cả. Còn một điều lạ thứ hai là cánh Ngự Lâm Quân đã không bắt liên lạc được với cánh Bình Xuyên của Tướng Lê Văn Viễn. Nếu họ phối hợp được với nhau, thì chắc là tình thế càng gay go hon nhiều.

Chúng tôi về tới nhà, chưa kịp tìm giấc ngủ, thì chợt có điện thoại của Trung Tá Dương Văn Minh, cho hay “Nguyễn Văn Vỹ đã đảo chính rồi!” Chúng tôi toát mồ hôi lạnh. Tôi dẫm chân tức tối kêu lên: ‘‘Đã biết mà! Thả hổ về rừng, cái họa này tất nhiên phải có!” Tin tức cho hay Tướng Vỹ, sau khi ra khỏi Dinh Độc Lập, đã vờ lên giọng nghĩa nhân, mời tất cả các sĩ quan về tư dinh Tuớng Lê Văn Tỵ ở đường Hùng Vương để “uống một chén rượu mừng” ông ta thoát nạn. Nào ngờ khi tới nơi, Vỹ sai bộ hạ đóng ập các cửa lại, bắt nhốt tất cả mọi người, và rêu rao là Ngự Lâm Quân đang tiến chiếm các cơ quan trọng yếu tại đô thành Có người nhanh chân thoát được, lên tiếng báo động. May sao quân Cao Đài và Liên Minh hãy còn nằm nguyên vị trí cũ, nên đã tức thì ứng phó. Tướng Vỹ tỏ ra tức khí làm càn, chứ thực ra Ngự Lâm Quân chẳng chiếm giữ được cơ quan nào hết. Bị uy hiếp, Vỹ cuống cuồng kéo quân chạy về Dalat. Lên tới chợ Thủ Đức, đoàn xe Ngự Lâm Quân hấp tấp đâm sập cả một gốc chợ.

Tờ mờ sáng hôm sau, mồng 1 tháng 5, vào khoảng 6 giờ sáng Dinh Độc Lập đã chật ních những nhân vật quân chính tới chúc mừng Thủ Tướng Ngô Đình Diệm thoát nạn thoán nghịch của Nguyễn Văn Vỹ. Người ta bàn tán xôn xao về việc Vỹ bị bắt đêm trước, và về cái “trò trẻ con” của Vỹ khi uy hiếp các sĩ quan. Có kẻ thuật lại rằng khi Tướng Tỵ bị Vỹ uy hiếp, Tỵ đã tự mình lột lon và ném mũ xuống mà nói: “Đó, mày ăn đi cho hết!” Sau bữa tiệc rượu mừng Thủ Tướng, một cuộc họp bất thường mệnh danh là “Hội Nghị Liên Tịch” giữa Cách Mạng và Quân Đội đã diễn ra ngay tại chỗ. Đôi bên tuyên bố hợp tác chặt chẽ với nhau, và cùng triệt để ủng hộ chính quyền. Mọi người cùng đứng chụp chung một tấm hình kỷ niệm cuộc họp bất thường và ngắn ngủi ấy. Về phía Quân Đội, tôi nhận ra nhiều khuôn mặt đã theo Tướng Vỹ chiều hôm qua, và tôi tự hỏi không biết họ sẽ “trung thành” với Thủ Tướng Diệm tới mức độ nào?

Trong giòng lịch sử trôi qua, sau này có người nhắc lại chuyện tôi bắt Vỹ thuở xưa, và hỏi tại sao tôi lại quyết định làm việc ấy một cách quá nhanh chóng và quá liều lĩnh như thế? Họ cho rằng hồi đó Thủ Tướng Diệm chỉ còn gang tấc nữa là phải dơ tay đầu hàng các tổ chức võ trang đối lập, bằng vào việc Bình Xuyên đang nổ súng tại đô

thành, Vỹ lại có thế lực trong tay, còn Nguyễn Văn Hinh thì thừa lệnh Bảo Đại bay từ Pháp về Calcutta, đang dừng chân tại đó đợi nghe Vỹ ca khúc khải hoàn. Thế lực đối phương mạnh mẽ như thế, mà tôi lại dám ra tay bắt Vỹ, thì quả là đã đi vào đường chết tới chín phần mười.

Sau đây là các lý lẽ của riêng tôi: Đồng ý là thế lực đối phương lúc bấy giờ rất đáng lo ngại, và khi tôi liều lĩnh đương đầu với họ, tôi cũng đã mặc nhiên lôi kéo cả tập thể Liên Minh theo tôi. Người Liên Minh chúng tôi sống 5 năm trong rùng núi, quen với cuộc đời đầu đội trời chân đạp đất, dù rằng gian nan chồng chất. Khi về thành, trông thấy bọn chân tay cũ của Pháp tung hoành, chúng tôi không tài nào chịu nổi. Tới lúc nghe thấy Tướng Vỹ toan làm chuyện đảo điên đất nước, lại thêm một Tướng lĩnh Quân Đội Quốc Gia như Lê Văn Tỵ đầu hàng đối phương vô điều kiện, riêng lòng tôi thật lấy làm căm giận. Dù rằng ý kiến bắt Vỹ nảy ra trong đầu óc tôi thật nhanh chóng, nhưng trong tôi, đã có sẵn những giải đáp nằm chờ đợi từ lâu, khiến ‘‘tôi không hề ngần ngại, mà Tướng Trình Minh Thế cũng không ngần ngại, không cần suy nghĩ đắn đo, gật đầu ưng thuận ngay cho tôi thực hiện kế hoạch. Thoáng trong giây phút, tôi tự hỏi mình, nếu Nguyễn Văn Vỹ đã cướp quyền trong tay Lê Văn Tỵ, và nếu lát nữa đây, Vỹ lại cướp luôn quyền lãnh đạo chính phủ của Thủ Tướng Diệm, thì số phận đoàn quân Liên Minh của chúng tôi sẽ như thế nào đây?

Chúng tôi chỉ vì cảm phục Thủ Tướng Diệm, vì động lòng trước mối tình tri ngộ thắm thiết của ông, mà lìa bỏ chiến khu về thành. Nếu bây giờ Thủ Tướng Diệm bị đối phương áp đảo phải nhường quyền, rồi hoặc chết, hoặc ra đi với hai bàn tay trắng, thì anh em chúng tôi quả thật là những kẻ khờ dại, bỗng không biến thành “đứa con côi”, bị ném vào giữa một đám người xa lạ đầy mưu cơ xảo quyệt, sớm muộn chúng tôi cũng sẽ chết. Việc ấy không thể để xảy ra được. Cần phải ra tay trước. Hơn nữa, xét theo hoàn cảnh buổi đương thời, đem một Ngô Đình Diệm ra so sánh với một Bảo Đại đầy tội lỗi với nước non, thử hỏi tôi nên chọn ai đây. Ngô Đình Diệm không làm tay sai cho Pháp, chưa hề phạm tội với giống nòi. Người ấy đang có sứ mạng đương đầu với hiểm họa cộng sản, đang lo định cư hàng triệu đồng bào Bắc Việt, thì có thể nào chúng tôi lại nở bỏ ông để xu phụ phe đối nghịch? Chúng tôi sở dĩ liều mình ủng hộ Ngô Đình Diệm là ủng hộ con người đạo đức ấy, còn những gì xảy ra trong 9 năm chấp chính, chẳng qua là do chứng bệnh tự kiêu tự mãn của một số nhân vật trong chính quyền và do bàn tay đạo diễn của ngoại nhân, chúng tôi hoàn toàn không có trách nhiệm, cũng như chúng tôi đã hoàn toàn không chia sớt quyền hành và hưởng thụ.

 

Vậy mà ngay sau khi Tổng Thống Diệm bị nhóm Dương Văn Minh hạ sát, có kẻ thuộc hàng trí giả đã có cái thái độ “dây máu ăn phần”, hùng hổ chỉ mặt tôi mà bảo rằng: – Anh đắc tội với lịch sử! Tôi quắc mắt hỏi lại người ấy: -Tôi đắc tội ở chỗ nào? – vì cá nhân anh, vì đoàn thể anh triệt để ủng hộ ông Diệm hồi năm xưa, nên ông ấy mới trở nên Tổng Thống, mới khuynh đảo thiên hạ, để mang lấy cái hậu quả khốc liệt ngày nay. Nếu các anh không làm, thì đâu có đến nỗi! Tôi bèn bảo thẳng vào mặt kẻ đối thoại kia: – Các anh lầm rồi. Các anh đang bị xúc động vì sự đổi thay đột ngột trước mắt, nên mới tự cho mình là có lý và mới có luận điệu như trên. Tôi không biết các anh có dính líu gì vào sự thay bực đổi ngôi ngày nay chăng, mà xem chừng các anh quá lạc quan, xét việc một cách lầm lẫn. Thí dụ ông Diệm là người không xứng đáng khiến các anh chủ trương lật đổ, thì mai đây chẳng những các anh không tìm được “Minh quân thánh đế’’, mà trái lại, các anh sẽ bắt gặp hàng chục “ông Diệm” khác, ghê gớm hơn! Nhưng tôi cam quyết với các anh chỉ trong vòng 5 năm trở lại đây thôi, hoặc chậm nhất là 10 năm, ông Diệm sẽ lại được suy tôn là anh hùng dân tộc. Các anh hãy cứ cho rằng tôi nói quấy đi, nhưng rồi các anh sẽ mở mắt ra mà xem những diễn tiến sắp tới.

Quả nhiên, tôi nào có nói sai? Chưa đầy 4 năm sau cái chết của ông Diệm, khi tên quân phiệt Nguyễn Văn Thiệu – một đồng lõa đắc lực  của bọn Dương Văn Minh trong cuộc hạ sát Diệm Nhu – chiếm ghế Chủ Tịch của cái gọi là “Uỷ Ban Lãnh Đạo Quốc Gia’’, thì ngay giữa lòng thủ đô Saigon đã phát sinh phong trào ‘‘Phục hồi danh dự cho Cố Tổng Thống Diệm”. Khắp nơi tổ chức truy điệu, cầu hồn cho ông. Nhục nhã thay, chính bản thân tên Thiệu chẳng những không dám ra tay đàn áp phong trào ấy, mà hắn còn lén lút cho vợ hắn đi ngả sau, tham dự lễ cầu hồn ông Diệm, người mà hắn đã phản bội mấy năm trước.

Như vậy, tôi có đắc tội với lịch sử chăng? Thời cuộc và lòng người đã trả lời hộ cho tôi rồi vậy.

Trở Về

IMG.101

Tìm Kiếm