Phong Trào Kháng Chiến Trịnh Minh Thế (17)

Chương XVII
CÁI CHẾT CỦA TRÌNH MINH THẾ
TỬ TRẬN? HAY BỊ ÁM SÁT?

Sau Hội Nghị Bandung, Tướng Thế trở nên một nhân vật sáng giá. Hàng ngày ông tiếp kiến bao nhiêu chính khách vừa muốn làm quen, vừa muốn cậy dựa thế lực Liên Minh để bước chân vào chính quyền. Thủ Tướng Ngô Đình Diệm thương yêu ông ra mặt. Việc vào ra Dinh Độc Lập kể như cơm bữa. Tuy Thủ Tướng Diệm cứng rắn bác bỏ ‘‘Tối Hậu Thư’’ của Mặt Trận Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia đòi chính phủ phải cải tổ trước thời hạn mồng 2 tháng 5, nhưng bên trong, Thủ Tướng cũng đã dự bị cải tổ Nội Các cho hợp với hoàn cảnh mới. Ông không thể duy trì hình thức hợp tác lỏng lẻo của Cao Đài và Hòa Hảo với hai ông Quốc Vụ Khanh càng ngày càng chống báng chính quyền hơn là giúp đỡ chính quyền.

Đối với Liên Minh thì Thủ Tướng Diệm bảo thẳng cho Tướng Thế biết ông sẵn lòng “khoán trắng” cho Tướng Thế một phần ba Nội Các sắp tới. Ông kể rõ ra các bộ Thông Tin, Lao Động, Canh Nông, Cải Cách Điền Địa, rồi bảo rằng: “Anh em cứ tự tiện chọn người đưa vào, không cần phải hỏi ý kiến trước”. Tướng Thế có đem ra bàn với anh em, và ông đã có ý định đẩy tôi vào chính quyền. Nhưng tôi thú thật tôi không mấy quan tâm tới vấn đề tham chính, mà tôi còn nghĩ tới nhiều chuyện khác quan trọng hơn. Tôi luôn luôn tâm niệm rằng chúng tôi về thành là mong có điều kiện khả đắc hơn để đương đầu với hiểm họa cộng sản, chứ không phải để chia nhau nắm giữ Bộ này, Bộ khác. Tướng Thế cũng nghĩ vậy, nên ông tỏ vẻ rất thờ ơ trong công cuộc chọn người lấp kín các cơ quan vừa kể.

Phần tôi, vừa rút chân ra khỏi Mặt Trận Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia, thì lại vướng chân ngay vào ỦY BAN CÁCH MẠNG. Với tư cách đại diện toàn thể, tôi bị tối tăm mày mặt vì những công việc phải làm trong địa vị Tổng Thư Ký. ỦY BAN CÁCH MẠNG vừa ra mắt ngày 29 tháng 4,thì ngày hôm sau, 30/4, chúng tôi phải tiếp xúc ngay với quần chúng tại Tòa Đô Chính. Suốt đêm hôm ấy lại phải đương đầu với trường hợp Nguyễn Văn Vỹ. Sang ngày mồng 1 tháng 5, lại bận họp hành với Quân Đội, tiếp đó lại kéo về tư dinh Tướng Nguyễn Giác Ngộ ở đường Hiền Vương, cùng với các ông Nguyễn Bảo Toàn, Hồ Hán Sơn, Hoàng Cơ Thụy, Trần Thanh Hiệp, Phạm Việt Tuyền, Bùi Quang Nga, thảo bản Tuyên Ngôn chính thức cho Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng.

Tướng Thế thấy tôi quá bận bịu mệt mỏi, thì ân cần an ủi, bảo tôi cứ chịu khó đi, đừng lo chi tới “chuyện nhà”. Nào ngờ chỉ cách hai hôm sau, tức là ngày mồng 3 tháng 5, Thủ Tướng Diệm lại với Tướng Thế vào Dinh Độc Lập, chỉ định Tướng Thế đứng ra cầm quân đánh lại Bình Xuyên. Tôi giật mình sửng sốt, thấy quả là một nhiệm vụ hết sức khó khăn đối với Thế, vì cái tình anh em cố cựu giữa Trình Minh Thế với Lê Văn Viễn là một trở ngại lớn. Tôi không biết có phải Thủ Tướng Diệm muốn thử lòng Trình Minh Thế mà giao cho công việc ấy chăng? Nếu Thế chẳng hết lòng mà để cho thất bại, thì mang tiếng “một dạ hai lòng” đối với Chính phủ. Còn nếu Thế quyết tình hạ thủ Bình Xuyên, thì còn mặt mũi nào nhìn Tướng Viễn nữa? Viễn mang tiếng với đời, nhưng Viễn chưa hề xử tệ với Thế. Lại cũng có dư luận cho rằng Thế cầm quân đánh Viễn là “đánh cụi” với nhau cho vui, vì Thế biết Viễn thế nào cũng sẽ thua, Thế sẽ được tiếng “trừ bạo Bình Xuyên”, được Quân Đội kính nể, và sẽ chuẩn bị đoạt quyền Tham Mưu Trưởng của Tướng Lê Văn Tỵ.

Cả hai giả thuyết trên đây, sau khi tôi xét kỹ, đều hoàn toàn không đứng vững. Vì, một là Thủ Tướng Diệm còn “thiếu thốn” gì nữa mà phải thử lòng Thế? Thủ Tướng Diệm đích thân mời Thế về thành, chứ không phải Thế tự ý xin về để manh tâm phản trắc. Thủ Tướng Diệm quên sao được “món quà Phạm Hữu Chương” còn nóng hổi? Quên sao được thiện tâm của Thế khi đứng vào Mặt Trận Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia để hóa giải bớt các kế hoạch chống phá chính quyền của phe đối lập? Quên sao được vai trò có tính cách quyết định tình hình của Thế trong đêm 30 tháng 4 tại Dinh Độc Lập? Không có Thế đem quân thiện chiến của mình bọc hậu Ngự Lâm Quân, thì tay chân Tướng Vỹ sợ gì mà không tấn công Dinh Độc Lập? Không có Thế tán thành công cuộc lật đổ Bảo Đại, thì làm gì có Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng đứng mũi chịu sào cho Thủ Tướng Diệm an tâm thanh toán lá bài Bảo Đại, thẳng đường tiến tới xây dựng nền Đệ Nhất Cộng Hòa?

Cho nên, cái mấu chốt của sự khai sinh ra nền Đệ Nhất Cộng Hòa là ở chỗ Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng xuất hiện đột ngột, xóa giùm cho Thủ Tướng Diệm cái trở ngại pháp lý lớn lao nhất là cá nhân Bảo Đại. Nếu không, chắc là Thủ Tướng Diệm vẫn hãy còn lúng túng “thọc tay vào bị”, vẫn còn bị nền đạo đức đông phương cản trở khiến một mình ông, ông không muốn mang tiếng tham quyền cố vị, không muốn cho đời sau kết tội ông “thoán ngôi Thiên Tử”. Bởi ông thấy khó lòng đối phó dứt khoát với Bảo Đại, nên ông mới phải hỏi ý kiến các đoàn thể và nhân sĩ. Thí dụ các đoàn thể và nhân sĩ, họp nhau tại Dinh Độc Lập hôm 29 tháng 4, không chủ trương làm cách mạng, mà chỉ nói là “Thủ Tướng không nên đi sang Pháp” thôi, thì ông sẽ phải xử trí sao đây? Lại còn cái nỗi khó khăn khác nữa là Thủ Tướng Diệm vốn là một tín đồ Công Giáo thuần thành, mà một lĩnh tụ Công Giáo uy tín buổi đương thời như Đức Cha Lê Hữu Từ lại có ý khuyên Thủ Tướng phải “nghe lệnh thượng cấp”, tức là phải sang Pháp gặp Bảo Đại, quả thật là khó nghỉ. Đức Cha Lê Hữu Từ nhiệt liệt ủng hộ Bảo Đại, luôn luôn khuyên nhủ Thủ Tướng Diệm nên nghe theo lời Ngài mà ra đi. Cho mãi tới khi Bảo Đại đã bị Cách Mạng truất phế rồi, mà Ngài vẫn còn vào ra Dinh Độc Lập để làm áp lực. Tình cờ Ngài và tôi đã chạm trán nhau tại một phòng khách trên lầu Dinh Độc Lập, tôi đã không ngần ngại chống lại quan điểm của Ngài trong cuộc gặp gỡ đó.

Cái lẽ thứ hai khiến tôi bác bỏ các giả thuyết nêu trên, là Thủ Tướng Diệm lâu nay đón Thế về thành, nhưng chưa hề bổ nhiệm Thế vào một chức vụ nào chính thức cả. Đó là một khuyết điểm lớn về phía chính quyền, một khuyết điểm tâm lý đáng trách vậy. Cho nên, nhân vụ Bình Xuyên phản loạn, Thủ Tướng Diệm muốn chuộc lỗi mình, tạo cho Thế cái cơ hội công khai thi thố tài năng, chứng tỏ với dư luận Thế quả thực là một đấng anh hùng có thực tài đánh đông dẹp bắc. Chứ tuyệt nhiên Thủ Tướng Diệm không hề có ác ý đối với Thế.

Còn đối với nguồn tin cho là Thế “đánh cụi” Bình Xuyên, tôi nghĩ chỉ có những kẻ không ưa Thế mới đưa ra luận điệu ấy để chế diễu Thế. Chứ thực ra, Thế không hề “đánh cụi” và cũng không thể nào “đánh cụi” được. Bởi lẽ, Thế được chỉ định đi đánh Bình Xuyên, chứ Thế không tự tiện đem binh đi đánh Bình Xuyên để rồi muốn làm gì thì làm. Còn nếu muốn “đóng trò” với nhau ngoài mặt trận, thì ít nhất đôi bên cũng phải có sự thỏa hiệp từ đầu, có chỉ thị rõ ràng cho binh sĩ đôi bên hiểu biết để khỏi chém giết nhau. Trái lại, đằng này Thế được chỉ định đánh Bình Xuyên đột ngột, thì còn thì giờ đâu để thương thảo với Bình Xuyên. Có lẽ nào một mình Thế đơn phương “đánh cụi” trong lúc binh sĩ Bình Xuyên cứ nhắm mắt “đánh thật”, thì có phải là Thế khờ dại chăng?

Vậy ta chỉ có thể hiểu rằng Thế có tình anh em với Bảy Viễn, nhưng Thế không xu phụ những lỗi lầm quá đáng của chân tay bộ hạ Bảy Viễn. Thế đánh là đánh cái “tinh thần phản loạn” của Bình Xuyên, đánh “lập trường thân Pháp” của Bình Xuyên, chứ Thế không đánh cá nhân Bảy Viễn. Sự thật đã rõ ràng như thế, không ai chối cãi được. Chỉ những người ác cảm Thủ Tướng Diệm mới bảo rằng Thế không nên đánh Viễn, chứ kẻ có công đều cho rằng Thế hành động chính đáng.

Nhận được lệnh chính phủ, Tướng Thế chuẩn bị ra quân ngay buổi sáng ngày mồng 3 tháng 5. Mỉa mai thay, Thế hoàn toàn xử dụng quân binh ruột thịt của mình để giúp chính phủ, mà chẳng hề đụng chạm tới một người lính nào của Quân Đội Quốc Gia cả, ngoại trừ mấy chiếc quân xa dùng tải binh ra mặt trận. Cùng theo ông ra chiến trường tại cầu Tân Thuận, có Đại Uý Tạ Thành Long, Tùy viên quân sự, Trung Tá Nguyễn Trung Thừa, Tư lệnh Trung Đoàn 60, và nhiều sĩ quan Liên Minh khác như Trung Tá Trần Minh Triết, Trung Tá Hà Văn Tình, Thiếu Tá Nguyễn Kim Bằng, Thiếu Tá Nguyễn Văn Của, Đại Úy Nguyễn Tấn Tước. Tất cả đều là những sĩ quan già dặn kinh nghiệm chiến đấu trong 5 năm ở chiến khu.

Thời gian Tướng Thế đứng chỉ huy ngoài mặt trận, thì phần tôi vẫn còn đang họp bàn việc Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng tại tư dinh Tướng Nguyễn Giác Ngộ ở đường Hiền Vương. Trưa hôm ấy, chúng tôi gặp mặt nhau trong bữa cơm. Tướng Thế thuật qua cho tôi nghe tình hình chiến sự, rồi dơ một bàn tay lên chỉ cho tôi xem một vết thương nhẹ do đạn địch bắn phải, ông lầm bầm trong miệng “chiều nay tôi sẽ trả thù”. Ông không quên hỏi thăm tôi về công việc Hội Đồng Cách Mạng và nói: “Về mặt chính trị, anh cứ thay mặt đoàn thể mà lo toan, còn về mặt quân sự, thì đã có tôi!” Thấy gương mặt ông lộ nhiều nét buồn vô cớ, tôi đâm lo. Lâu nay tôi vốn bị ám ảnh vì nhiều triệu chứng bất tường, nên hôm nay tôi càng thấy bứt rứt hơn trong lòng, cứ nghĩ vẩn vơ mà không biết mình nghĩ gì. Chỉ mới một tuần lễ trước đây thôi, một nhà tướng số gần Nhà Thờ Huyện Sỹ đa gieo quẻ và nói với tôi: “Này lạ lắm, tôi thấy có một tổ ong bỗng nhiên như bị lạc bầy, bay cùng trời đất. Dường như con ong chúa bị giết hay bị ai bắt mất, khiến đàn ong hoảng hốt không còn trật tự!” Lúc đầu tôi cứ nghĩ là ông thầy tướng nói nhảm, nhưng sau tôi chợt nhớ tới đoàn thể, đem so sánh với tổ ong, tôi đâm hoang mang trong dạ, chả biết nên tin hay không nên tin lời tiên tri nọ. Lại nữa, mới buổi sáng hôm nay, Tướng Thế sai Đại Tá Văn Thành Cao về Đồng Tháp Mười mang thêm lên một số quân cho ông xử dụng. Đại Tá Cao thấy tình hình an ninh giọc đường bất ổn mà thượng cấp sai đi lại chẳng cấp cho một lực lượng hộ tống nào, nên cứ đứng chần chờ trước cửa. Tướng Thế thấy vậy bèn gắt lên: “Ô hay, sao đồng chí không đi gấp cho kịp, để còn về đây mà thay thế tôi?” Đại Tá Cao giật mình sửng sốt, bước ra ngoài lắc đầu, bảo với anh em: “Lạ quá, tại sao Ngài Thiếu Tướng lại nói một câu xui xẻo. Ngài bảo tôi đi gấp để về mà THAY THẾ Ngài? Thay là thay cái gì đây?” Than thở xong, Đại Tá Cao đành lên xe Jeep về Đồng Tháp Mười với một vài binh sĩ thân cận. Ông đâu có ngờ câu nói trên kia là câu trối trăn cuối cùng của Tướng Thế, và cuộc gặp gỡ ấy cũng là cuộc gặp gỡ cuối cùng giữa ông với Tướng Thế.

Các sự việc kể trên, tôi biết có đem ra nói hôm nay, thì Tướng Thế lại gạt đi mà bảo: “Anh chỉ hay dị đoan!” Nên tôi chỉ còn biết kín đáo khuyên ông hãy hết sức thận trọng nơi chiến trường, đừng có quá liều lĩnh. Việc binh cơ đã có các anh em đầy khả năng đảm trách cho rồi, người làm Tướng phải bảo trọng lấy thân cho vững lòng sĩ tốt Tôi nói thế là muốn ám chỉ cáỉ tính ông, hễ ra trận là luôn luôn đi đầu, quá gần với cái chết. Lần này ông không phản đối lời tôi khuyên giải, mà chỉ im lặng gật đầu.

Sau khi buông đũa, chợt ông đưa tay xem đồng hồ, rồi tỏ vẻ giận dữ, cầm máy điện thoại liên lạc với Trung Tá Quân Trấn Trưởng Dương Văn Minh. Tôi nghe ông hét trong máy:” Sao giờ này mà Trung Tá vẫn chưa cung cấp số quân xa theo lệnh tôi?” Thế rồi, ông và các sĩ quan tùy tùng lại xuất trận. Phần tôi, tôi lại lo ra mắt quần chúng trong một cuộc biểu tình được tổ chức trước Tòa Đô Chính. Chiều hôm ấy, trời vần vũ mây đen. Trước khi cất lời kêu gọi quần chúng trên bao lơn Tòa Đô Chính, tôi ngồi im một chỗ như kẻ không hồn. Phóng viên của một tờ báo Hoa-Anh ngữ bên Hồng Kông tiến lại gần, chụp hình và quay phim, tôi cũng để mặc. Từ trên bao lơn Tòa Đô Chính, tôi đưa mắt về phía cầu Tân Thuận, thấy có sấm chớp và nghe tiếng súng nổ dồn dập. Tan cuộc biểu tình, tôi về nhà, lại cũng ngồi im một chỗ, không buồn thay đổi áo quần. Tôi có những cảm giác rất lạ, lòng hồi hộp khác thường. Chợt ngoài đường có tiếng còi nhà binh rú lên, rồi một chiếc xe Hồng Thập Tự Quân Đội quặt vào cổng. Đại Uý Tạ Thành Long hấp tấp chạy vào, gặp tôi thì vừa khóc thút thít vừa báo cáo: Thưa Ngài, Ngài Thiếu Tướng đã mất rồi! Tôi tưởng như trời sập đất lở ngay trước mắt. Tôi hỏi lại: – Long nói sao? Long lập lại lời nói cũ, và thêm:- Hiện giờ ngoài mặt trận, Trung Tá Nguyễn Trung Thừa vẫn tiếp tục chỉ huy, nói là thừa lệnh Ngài Thiếu Tướng, chứ Trung Tá cũng không dám tiết lộ tin Ngài Thiếu Tướng đã tử trận.

Long bèn hỏi tôi bây giờ nên làm sao? Tôi bảo anh hãy đưa ngay thi hài người quá cố lên trên gác. Cả nhà vắng tanh. Gặp trường hợp đau khổ này, phải chi có các anh em như Văn Thành Cao, Hồ Đức Trung, Nguyễn Văn Đờn có mặt tại nhà, thì tôi cũng đỡ bối rối. Đằng này Đại Tá Cao còn đang ở dưới Đồng Tháp Mười, Thiếu Tá Trung bận đi công tác chưa về, còn Thiếu Tá Đờn thì vẫn ở trên Núi Bà Đen. Tôi bồng xác Tướng Thế trên tay, cái xác hãy còn mềm mại như người đang ngủ. Tôi thay đổi áo quần cho ông, rồi đặt nằm ngay ngắn trên giường, đầu quay ra cửa. Người tôi đầy những máu.

Tướng Thế mất đúng 7 giờ chiều ngày mồng 3 tháng 5 năm 1955. Ông bị một viên đạn Carbine duy nhất bắn vào lỗ tai bên phải xuyên thẳng qua mắt trái, tròng mắt bay mất. Khói đạn còn dính bên tai, chứng tỏ kẻ sát nhân phải đứng gần lắm nên mới chính xác như vậy. Một con mắt còn lại nhắm nghiền, hàm răng giả của ông cũng đã bay đi đâu mất. Theo lời Đại Uý Tạ Thành Long báo cáo, và chính tôi cũng đã được Long dẫn đi khám trận một thời gian sau đó, thì một vài phút trước khi Tướng Thế bị hạ sát, ông đang đứng cạnh một bức tường hoa đã đổ nát (ngay dưới chân cầu Tân Thuận, phía Saigon đi xuống, phải đi vòng theo một con đường nhỏ về phiá tay trái mới tới được nơi ấy), ông đưa tay chỉ trỏ, ra lệnh cho quân nhà bắn vào một chiếc Frégate đậu bên kia cầu mà ông nghi là của Pháp giả vờ nằm đó để làm hiệu cho đối phương bắn về phía ông. Cứ theo vị trí kể trên, thì viên đạn đi xéo từ bên phải ở phía sau, trúng ngay lỗ tai, mà người bắn ra viên đạn ấy không thể cách xa hơn 10 thước, và ắt đã núp dưới chân cầu, sau lưng mục tiêu. Tướng Thế chết gục tức khắc, không kịp thốt ra một lời nào. Giữa lúc ấy thì quân Liên Minh đang tiến qua cầu, một chiếc xe Jeep bị bắn hỏng, chết nằm giữa cầu, theo lời tường thuật của Đại Uý Nguyễn Tấn Tước.

Cả thành phố Saigon như lên cơn sốt. Tin Tướng Thế tử trận quả là một tiếng sét chính trị đối với cả chính quyền lẫn các đoàn thể quốc gia. Người đầu tiên được tôi báo tin là Trung Tướng Nguyễn Thành Phương. Ông này tức khắc chạy đến, ôm xác người em đồng đạo khóc như mưa như gió. Trông thấy ông, lòng tôi lại thêm tủi buồn. Tôi hét to lên: ‘‘Đây là một vụ ám sát! Tôi quyết phải tìm cho ra ánh sáng vụ này mới nghe!” Tướng Phương cũng thấy như thế, nhưng ông thân mật khuyên tôi: “Chú đừng có nói bậy không nên. Lúc này là lúc chú phải hết sức thận trọng, kẻo nguy lắm đấy!” Một lát sau, Thủ Tướng Diệm và ông Cố Vấn Nhu đều đòi ra thăm. Nhưng chúng tôi thành khẩn khuyên hai nhân vật quan trọng ấy là xin hãy đợi tới sáng hôm sau, chứ đừng đến giữa đêm khuya, vì thành phố Saigon đang có biến, an ninh không đuợc bảo đảm.

Thế là tờ mờ sáng hôm sau 4 /5 /55 điện đường chưa tắt, Thủ Tướng Diệm, Cố Vấn Nhu, cùng toàn bộ Nội Các và Bộ Tham Mưu (do Tướng Lê Văn Tỵ hướng dẫn), đều tề tựu đông đủ trên căn gác nhỏ ở đường Trương Minh Giảng. Thủ Tướng Diệm tức thì có một cử chỉ làm anh em chúng tôi vô cùng xúc động và còn nhớ mãi tới bây giờ. Ông đầm đìa nước mắt, cúi xuống ôm ghì lấy thi hài Tướng Thế, rồi hôn ngay trên mặt người chết. Tiếp đó, ông ngất xỉu luôn. Mọi người hốt hoảng, vội vàng tìm cách cứu chữa, mãi một lát sau ông mới tĩnh, và rồi lại khóc. Còn ông Nhu thì quỳ bên gường, vừa nắm tay người chết vừa kêu than “Anh Thế ơi” với một giọng ai oán đầy nước mắt. Chúng tôi thật không ngờ Thủ Tướng Diệm lại đau khổ tới mức ấy. Ông như mất một người ruột thịt yêu quý nhất trên đời.

Mãi tới 4 giờ khuya, bà Trình Minh Thế mới về tới nơi. Bà như người mê sảng, ôm xác chồng ngất lên ngất xuống, nỗi đau đớn tuyệt vọng của bà thật không có gì sánh nổi. Bà nhắc nhở ngay tới việc chồng bà trước đây hai tháng bỗng nhiên cởi bỏ chiếc nhẫn cưới và trao lại cho bà. Quả là một cử chỉ từ biệt do tâm linh sai bảo, bây giờ mới biết thì đã muộn.

IMG.091

Tướng Trình Minh Thế

Thủ Tướng Diệm liền truy phong chức Trung Tướng cho người quá cố và hạ lệnh quốc táng. Linh cữu Tướng Thế được quàn tại Tòa Đô Chính trên phủ lá Quốc Kỳ, suốt ngày đêm có 4 sĩ quan cấp Tá đứng hầu bên cạnh. Lại một lần nữa, tôi thay mặt gia đình bà quả phụ Nguyễn Thị Kim, đứng chủ tang, đáp lễ đồng bào và thân hào nhân sĩ tới chia buồn. Người quen cũng như kẻ lạ đều khóc nức nở, tỏ bụng thành thực tiếc thương một chiến sĩ anh hùng mệnh bạc. Ngày mồng 5 tháng 5, tôi lại phải tạm rời chiếc quan tài, đi dự một cuộc họp quần chúng tại rạp hát Nguyễn Văn Hảo. Với tấm lòng nát tan, tôi không còn thiết gì tới các hoạt động của Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng nữa. Tiếc thay một số cán bộ chính quyền nói đúng hơn là chân tay của Trần Chánh Thành và Nguyễn Ngọc Lễ (Tổng Giám đốc Cảnh sát Công an) lầm tưởng cái chết của Trình Minh Thế là cơ hội tốt cho họ tiến lên, khuynh đảo Cách Mạng. Họ đặt ra nhiều yêu sách, như thay đổi danh xưng của Ủy Ban Cách Mạng, bầu thêm người vào Ủy Ban, v.v… Thậm chí có người đã lăn ra “nằm vạ” trước bàn Chủ Tọa để làm áp lực. Nếu chúng tôi không cứng rán, thì cuộc họp hôm ấy đã tan rã mất. Chúng tôi không khỏi ngạc nhiên trước thái độ quái gở của mấy người cán bộ kể trên. Đã gọi là “Cách Mạng” thì làm gì có “Bổ khuyết”? Những người được “bổ khuyết” ấy có làm cách mạng chăng? Và họ thay mặt cho ai? Đây lại càng là một bằng cớ hùng hồn cho thấy Ủy Đan Cách Mạng không phải là sản phẩm của chính quyền. Hơn nữa, nếu Ủy Ban Cách Mạng do chính quyền giật giây, thì mọi hoạt động của Ủy Ban hẳn phải do chính quyền quyết định. Đằng này trái lại, chính ông Cố Vấn Nhu đã sai liên lạc yêu cầu chúng tôi “tạm hoãn” cuộc biểu tình ngày 5 /5 / 55, với lý do rằng “Cộng sản Bắc Việt đang lên án chính phủ Ngô Đình Diệm ngoan cố không chịu thi hành Hiệp Định Genève, nay thấy nhân dân Miền Nam biểu tình rầm rộ, chúng có thể cho rằng chính quyền có nhúng tay vào”. Nhưng chúng tôi trả lời Ông Nhu rằng chúng tôi đã lỡ tổ chức rồi, không thể hủy bỏ được. Hồ Hán Sơn đã được phái ra Trung chủ tọa một cuộc biểu tình tương tụ tại Phu Văn Lâu.

Ngày mồng 6 tháng 5 được ấn định là ngày cử hành tang lễ cho Cố Trung Tướng Trình Minh Thế. Đúng 9 giờ sáng hôm ấy, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm đích thân điếu văn trước linh cữu bấy giờ đã được chuyển ra ngoài công trường Tòa Đô Chính. Tiếng nức nở của Thủ Tướng Diệm lại vang lên trong máy vi âm. Sau đó, quan tài được đặt trên một chiếc xe thiết giáp phủ Quốc Kỳ, lìa khỏi Saigòn, tiến theo con đường lên Tây Ninh. Thủ Tướng Diệm tiễn theo linh cữu tới gần chợ Saigon mới quay trở lại.

Đoàn xe tang, do Quân Cảnh hướng dẫn, kéo dài hơn 3 cây số. Giọc đường, qua các trạm canh gác và các căn cứ quân sự, anh em cảnh sát và quân nhân bất chấp luật lệ phải quay mặt ra phía lề đường, thì họ lại ngảnh mặt về phía xe tang gào lên những lời tiếc thương nghe thật thảm thiết. Tôi còn nhớ rõ một bà cụ mới di cư vào Nam, đã chạy ra đường, đón đoàn xe tang mà kêu lên rằng “ông Thế ơi, ông nỡ bỏ chúng tôi sao?”

Tới đây, tôi muốn nói rõ một điều. Số là chúng tôi dự định, trước khi vào Núi Bà Đen, đoàn xe tang sẽ rẽ vào Tòa Thánh Cao Đài, ngừng lại làm lễ, rồi mới theo con đường Bình Dương Đạo vào núi. Nhưng tiếc thay, Tòa Thánh đã chẳng cho phép, mặc dù cả gia đình Tướng Thế đều là tín đồ Cao Đài chính thống, và mặc dù nhà riêng của Tướng Thế ở tại cửa số 5, cạnh chu vi Tòa Thánh. Sự việc lạ lùng kia đã gây đau buồn thắc mắc trong lòng các chiến sĩ Liên Minh cho mãi tới ngày nay. Nhân đây, tôi cũng muốn nói thêm cho rõ là Quân Đội Quốc Gia Liên Minh, tức là lực lượng võ trang của Mặt Trận Quốc Gia Kháng Chiến, không có mối liên hệ nào với Quân Đội Cao Đài, dù rằng phần đông binh sĩ Liên Minh đều xuất thân từ Cao Đài mà ra. Danh nghĩa Liên Minh quả thực đã vượt lên trên giới hạn của một giáo phái để chuẩn bị đóng một vai trò rộng lớn hơn. Phải chăng vì thế mà Tòa Thánh đã tỏ vẻ lạnh nhạt, khiến cho đoàn xe tang phải đổi lộ trình, đi thẳng vào Tỉnh Lị Tây Ninh, rồi theo con đường đất đỏ, vào núi? Xét vấn đề một cách vô tư, tôi thấy Tòa Thánh có chỗ hẹp lượng. Giả dụ thuở bình sinh, Trình Minh Thế có phạm lỗi lầm gì chăng nữa, thì “nghiã tử vẫn là nghĩa tận”, hẹp hòi gì một chút lễ nghi hình thức với người đã nằm xuống? Tòa Thánh đã bỏ mất đi một cơ hội để làm nhẹ bớt đi tội ác của Nguyễn Văn Thành đối với Trình Minh Thế trong mấy năm qua. Tôi nghĩ thật đáng tiếc.

IMG.092

Tướng Thế được an táng tại “Nghĩa Trang Liên Minh”, tọa lạc nơi chân núi Bà Đen. Nghĩa trang này, như tôi đã thuật trong một đoạn trước, do chính Tướng Thế chọn lựa thành lập chừng một vài tháng trước khi về thành. Chúng tôi muốn cho “người anh cả” của Liên Minh lại về nằm chung với các “đứa em” đã ngã gục trước ông. Núi Bà đã che chở ông trong những ngày lận đận gió sương, thì nay Núi Bà lại đem hồn thiêng ông về chỗ cũ để ngàn thu bầu bạn với chim kêu vượn hót. Ông về thành hợp tác với chính quyền, nhưng ông chưa hề biết tới cái gọi là “Mùi hưởng thụ’’ trong cuộc đời mới. Chính quyền chưa để lại dấu vết gì của “Vinh hoa phú quý” trên con người ông. Nhà vẫn là nhà ở của Liên Minh. Chiếc xe khiêm tốn dùng xê dịch hàng ngày vẫn là vật sở hữu của Liên Minh. Đoàn quân xuất trận với ông bên cầu Tân Thuận vẫn là quân Liên Minh, ông chỉ “ghé chơi” Saigon một thời gian, tuy ngắn ngủi, nhưng cũng quá đủ để quốc dân đồng bào thấy rõ tài năng “xuất quỷ nhập thần” của ông, rồi lại về Núi Bà nằm chung với đàn em yêu dấu ngày nào. Ông không có gì hổ thẹn với đàn em ấy cả. Chúng tôi quyết định đưa xác ông về Núi Bà với tất cả sự hãnh diện, hãnh diện cho một lãnh tụ kháng chiến bình sinh nêu cao ngọn cờ “chống cộng, đả thực, bài phong”, và khi nhắm mắt buông tay cũng vẫn trên danh nghĩa sáng rực ấy. Hãnh diện cho cả bản thân chúng tôi đã không uổng phí tuổi hoa niên kết nghĩa đồng tâm đồng chí với con người hiếm hoi ấy.

Một thời gian sau khi Tướng Thế mất, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm muốn bày tỏ lòng tiếc thương bằng cách định thuê thợ đúc tượng đồng cho Tướng Thế. Thủ Tướng có đề nghị với chúng tôi là xin để chính phủ đài thọ chi phí về việc ấy với giá ước lường đương thời là nửa triệu bạc.

Nhưng chúng tôi không nhận, và chính đoàn thể chúng tôi đã đúc bức tượng đồng đặt ngay nơi mộ để làm kỷ niệm. Dưới bức tượng ấy, có khắc ghi 4 câu thơ do tôi sáng tác khoảng 3 năm trước, khi còn ở trong rừng. Đó là một bài thơ dài đã được nhạc sĩ Trần Ngọc phổ thành một bài ca riêng cho anh em Liên Minh. Bài ca này rất được anh em ngưỡng mộ, thường hát mỗi ngày khi chào cờ. Và sau khi Tướng Thế qua đời, đài Phát Thanh Quân Đội, cũng đã có trình tấu nhiều lần. Bốn câu thơ được trích ra khắc vào bức tượng đồng như sau:

Trình Minh Thế, đấng anh hùng cứu quốc,

 Đã tung cờ chính khí giữa non sông.

Cùng hào kiệt đổi trao lời nguyện ước,

Thề hy sinh để cứu vãn giống giòng!

Gẫm tính lại, Trình Minh Thế có mặt tại Saigon vừa đúng 80 ngày tất cả. Thời gian ấy ngắn ngủi thật, nhưng đã xảy ra biết bao nhiêu biến cố lịch sử còn ghi dấu tích của họ Trình. Có người đặt dấu hỏi là nếu Trình Minh Thế không về với Thủ Tướng Ngô Đình Diệm, thì liệu ông có phải thiệt thòi tính mạng một cách oan uổng như thế không? Tôi thấy khó mà trả lời câu hỏi này. Bởi lẽ Trình Minh Thế là một chiến sĩ thực thụ, chống 3 kẻ thù dân tộc bằng súng bằng gươm, chứ không bằng lý thuyết, bằng lời bàn suông, thì sự tử sinh sớm muộn cũng sẽ có, biết đâu mà lường được. Lại có người thắc mắc, Trình Minh Thế tử trận? Hay bị ám sát? Bằng vào các chi tiết như tôi đã diễn tả trên, thì Trình Minh Thế không tử trận, mà thật sự là ông bị ám sát ngay giữa chiến trường. Ai đã ám sát ông? Cá nhân hay tổ chức? Đã gần 30 năm qua, tôi cố tìm ra sự thật chung quanh một số các giả thuyết.

Trước hết, các thành phần không ưa Cố Tổng Thống Diệm cho rằng ông Diệm hoặc ông Nhu đã nhúng tay vào máu, trừ khử trước một người tuy có công với chính quyền, nhưng lại “rất nguy hiểm” cho chính quyền. Thú thật, ngay buổi đầu, lòng tôi cũng đã có sự nghi ngờ ấy. Nhưng rồi tôi lại tự bác bỏ ngay. Xét về mặt lý thuyết, Cố Tổng Thống Diệm không dại gì vội vàng chặt đứt chân tay mình bằng cái chết của Trình Minh Thế, ngay giữa lúc đối phương đang triệt để lũng đoạn tình hình, khuynh đảo chính quyền. Dù quả thật Trình Minh Thế có “nguy hiểm” chăng nữa, thì cũng vẫn chưa phải lúc để ra tay. Uy danh Trình Minh Thế còn đang rất hữu ích đối với chính quyền, lá bài hợp tác còn cần được khai thác. Bảo rằng Trình Minh Thế chủ trương “đánh cụi” Bình Xuyên ư? Nhưng “đánh cụi” để được cái lợi gì cho Thế? Để cướp quyền Tham Mưu Trưởng của Lê Văn Tỵ rồi thừa thắng xông lên, lật đổ chính phủ chăng? Việc này không dễ gì đạt được một sớm một chiều, huống chi Trình Minh Thế không bao giờ có ý tưởng ấy. Nếu muốn lật đổ chính phủ, thì trong đêm 30 tháng 4 tại Dinh Độc Lập, hoàn toàn bị tê liệt, chúng tôi có thể uy hiếp mạng sống của Cố Tổng Thống Diệm ngay trong phòng ngủ của ông, bắt ông tuyên bố nhường quyền, thì toán quân yếu ớt Phòng Vệ Dinh Độc Lập lúc ấy cũng không làm gì được. Họ đành phải bỏ tay, cũng như toán Ngự Lâm Quân đã phải bó tay khi chủ soái của họ đang đứng trước họng súng của tôi.

Xét về mặt tình cảm, lại càng khó lên án hai anh em Cố Tổng Thống Diệm. Người ta không quên một ông Thủ Tướng háo hức vào chiến khu thăm Trình Minh Thế, đòi hỏi Trình Minh Thế phải về gấp trong vòng hai tuần lễ. Người ta không quên một ông Thủ Tướng công khai ca tụng Trình Minh Thế trước mặt nhân viên Nội Các. Người ta cũng không quên một ông cố vấn lặn lội vào ra Núi Bà Đen năn nỉ đón cho được Trình Minh Thế về với anh mình, quý trọng Thế cho đến nỗi Thế đòi hỏi gì cũng ưng thuận hết. Huống chi một người đã ôm xác Thế khóc rồi ngất đi, và một người đã quỳ bên giường Thế kêu than thảm thiết, không thể là một ‘‘Tào Tháo gian hùng” giết bạn, rồi vờ khóc bạn để che mắt thế gian. Phải chi chính quyền đang ở thế mạnh, bình tĩnh bày gian kế, thì cũng còn nghe được. Đằng này, chính quyền đang rối như tơ vò, một mặt chưa biết đối phó với Bình Xuyên ra làm sao, mặt khác lại bị Nguyễn Văn Vỹ lăm le đảo chính, thì hỏi còn lòng nào cho một con người đạo đức như Ngô Đình Diệm quay ngược lại sát hại anh em đồng chí? Và dù một Cố Vấn Ngô Đình Nhu có kỳ mưu dị kiến tới đâu chăng nữa, cũng không thể khờ dại lén lút giết Thế để làm hại ngay cả anh mình.

Giả thuyết thứ hai cho rằng ông Tướng Edward Lansdale có thể đã dính líu vào nội vụ, lý luận rằng ông này vốn triệt để ủng hộ Thủ Tướng Diệm, mà Trình Minh Thế thì lại phá Thủ Tướng Diệm bằng việc tham gia Mặt Trận Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia. Tôi không đồng ý. Phải biết rằng ông Edward Lansdale là một nhà Tướng, bao giờ cũng có cảm tình với nhà Tướng khác. Đặc biệt Trình Minh Thế lại là một nhà Tướng trẻ tuổi, anh hùng, ngay lúc sơ ngộ đã khiến Lansdale hết sức kính nể. Việc Trình Minh Thế tham gia Mặt Trận Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia đã có cho Thủ Tướng Diệm lẫn ông Lansdale biết trước, thì còn nghi hoặc chỗ nào nữa? Huống chi, nếu Tướng Lansdale chủ trương giết Thế, thì không bao giờ ông còn giữ được mối liên lạc thân hữu với anh em Liên Minh cho mãi tới ngày nay. Không bao giờ ông phải khổ công “đóng kịch” bằng cách tự nguyện đứng ra làm “chủ hôn” cho con trai Tướng Thế là Trình Minh Nhựt. Không bao giờ ông thèm “chơi”‘ với Văn Thành Cao là người kế vị Tướng Thế cả. Tôi thấy Tướng Lansdale, nay đã ngoài 75 tuổi, vẫn luôn luôn thương tiếc nhắc nhở tới Tướng Thế, luôn luôn ca tụng con người tài hoa ấy. Thậm chí trong nhà ông, hiện giờ vẫn còn giữ hình ảnh của Tướng Thế làm kỷ niệm.

Giả thuyết thứ ba cho rằng Trình Minh Thế bị ám sát bởi tay bọn sĩ quan tôi tớ cũ của Pháp. Thủ phạm chính thì hành vụ ám sát kia là cựu Tướng M.H.X., người mà 8 năm sau đã thay mặt bọn Dương Văn Minh hạ sát cả hai anh em Diệm Nhu buổi sáng ngày mồng 2 tháng 11 năm 1963, trước rạp hát Kim Chung ở đường Hồng Thập Tự.

Tôi hoàn toàn đồng ý với giả thuyết này. Bởi các lẽ:

1- Pháp hết sức căm thù Trình Minh Thế và đã công khai lên án tử hình khiếm diện hồi 1951, khi Trình Minh Thế vừa ra khu. Việc này thật dễ hiểu, vì chẳng những Trình Minh Thế lập chiến khu chống Pháp công khai, mà trước đó không bao lâu, chính Trình Minh Thế đã chủ trương vụ ám sát Tướng Chanson và Thái Lập Thành, giao cho thuộc hạ thân tín lúc bấy giờ là Đại Uý Văn Thành Cao, Chỉ Huy Trưởng Quân Đội Cao Đài tại Sađéc, thi hành công tác mạo hiểm này.

2-  Một Thiếu Tá phi công Pháp bị Trình Minh Thế bắn chết, khi viên phi công này bay thám thính trên chiến khu Bù Lu.

3 – Hai quả bom khiêu chiến của Liên Minh tại Saigon ngày mồng 9 tháng 1 năm 1952 là một cái tát đau đớn vào mặt nhà cầm quyền Pháp, báo hiệu cho Pháp biết Trình Minh Thế là một địch thủ lợi hại, cần phải trừ khử bất cứ lúc nào.

4. Hai tên chủ đồn điền Pháp tại Tây Ninh bị Trung Tá Nguyễn Trung Thừa bắt được và hạ sát hồi cuối năm 1954. Pháp vô cùng phẫn uất, nhờ cả Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc can thiệp, đòi hỏi Trình Minh Thế phải đền bồi này nọ.

 

5. Pháp sợ uy danh Trình Minh Thế cho đến nỗi, trong các cuộc biểu tình ngày 30/4, ngày 3/5, ngày 5/5 và ngày 20/ 7/ 55 tại Saigon (khi Thế đã mất rồi), tất cả quân binh Pháp đều bị cấm trại 100%.

M.H.X. là một nhân viên tình báo nổi tiếng phục vụ cho quyền lợi Pháp ở Việt Nam. Tên này chưa hề ra trận mạc bao giờ, mà vẫn lên tới cấp Tướng của Pháp, đủ biết hắn ta được lòng tin cậy của Pháp như thế nào. Các tin tức thu lượm được cho hay M.H.X. đã tổ chức sai người theo dõi Trình Minh Thế từ khi Thế mới về thành, và khi biết Thế thân hành ra chỉ huy mặt trận tại Cầu Tân Thuận, thì M.H.X. sai bộ hạ phục sẵn dưới cầu, thừa lúc chiến sự đang sôi nổi hỗn loạn, bắn ngay một phát súng Carbine từ đằng sau tới, rồi biến vào nhà dân ở gần đó.

Và câu kết luận của tôi là Trình Minh Thế đã bỏ mình vì thực dân Pháp chứ chẳng phải ai khác. Đáng hận là cái chết ấy lại xảy ra khi “lịch sử tái chiếm Việt Nam của Pháp” chỉ còn mấy tháng nữa là cáo chung. Trình Minh Thế chết vì khinh địch, vì cái tinh thần dũng cảm của con nhà Tướng luôn luôn sẵn sàng hứng chịu lằn tên mũi đạn. Sau hết, vì chưa lường nổi một âm mưu thâm độc xảy ra quá sớm

Trở Về

Tìm Kiếm