Phong Trào Kháng Chiến Trịnh Minh Thế (19)

Chương XIX
DƯ ÂM TRÌNH MINH THẾ

Thuở xưa, đọc truyện Tam Quốc, tới hồi Quan Vân Trường bị Đông Ngô ám hại, Trương Dục Đức nóng lòng báo thù cho anh mà chết, và Chiêu Liệt Hoàng Đế quá xót thương hai em cũng đã nhắm mắt tại Cổ Thành, tôi chỉ muốn vứt sách cho xong. Ngày nay đối với Trình Minh Thế cũng vậy. Chép tới cái chết đau thương của họ Trình, tôi thấy rã rời chân tay, không còn muốn viết tiếp nữa.

Tuy nhiên, dù Trình Minh Thế mất rồi, nhưng “dư âm” vẫn còn bàng bạc qua một số sự việc liên quan tới lịch sử buổi đương thời, nên tôi lại phải cố gắng chép cho xong mấy giòng cuối cùng.

Quay lại vấn đề nội bộ Liên Minh. Sau khi Tướng Thế mất, đoàn thể Liên Minh trải qua một cơn khủng hoảng tinh thần trầm trọng. Dù muốn dù không, anh em cũng phải chọn người đưa lên thay thế vai trò lãnh đạo quân sự.

Một cuộc họp cao cấp được triệu tập tại số 55 Trương Minh Giảng. Chọn ai bây giờ? Theo nguyên tắc, Đại Tá Văn Thành Cao, nguyên là Phó Tổng Tư Lệnh Quân Đội Liên Minh, đương nhiên phải được bầu lên. Nhưng xét theo tâm lý từng người, thì Trung Tá Tham Mưu Trưởng Trương Lương Thiện, Thiếu Tá Nguyễn Văn Đờn, cùng các cựu Tiểu Đoàn Trưởng như Trung Tá Nguyễn Trung Thừa, Trung Tá Nguyễn Tấn Mạnh, Trung Tá Hà Văn Tình, đều tỏ dạ bất phục đối với Văn Thành Cao. Họ đang âm mưu một cuộc “đảo chính nội bộ” nhằm đánh đổ Văn Thành Cao và tín nhiệm Trương Lương Thiện. Việc này lại được Tướng Nguyễn Thành Phương ở ngoài tiếp tay nữa, mới thật tai hại. Tướng Phương không ưa Văn Thành Cao, muốn ủng hộ Trương Lương Thiện lên cầm quyền, để dễ bề sát nhập Liên Minh vào với Cao Đài thành một mối, dưới sự thống lĩnh của Phương. Tôi thấy tình hình khá nguy hiểm. Nếu vạn nhất kế hoạch khuynh đảo kia thành công, thì chắc chắn kỷ cương lâu nay sẽ chẳng còn gì, và Liên Minh sẽ tan rã mất. Văn Thành Cao ý thức sự thất bại trước mắt, nên nhờ tôi can thiệp.

Trước mặt tất cả mọi người, tôi nghiêm nghị nói:

– Buổi sinh tiền, Cố Trung Tướng Thế có nói với tôi một câu mà hôm nay tôi thấy có bổn phận thuật lại rõ ràng cho anh em biết. Ngài bảo rằng “Nếu rủi sau này tôi có làm sao, thì chỉ có ông Cao là người có đủ khả năng thay thế tôi mà thôi.” Ngài nói ra câu ấy giữa lúc quân Pháp đang uy hiếp Núi Bà. Nay theo nguyên tắc kỷ cương trong gia đình Liên Minh chúng ta, hễ anh cả mất thì em thứ lên. Chúng ta không những phải tuân theo lời di huấn của Cố Trung Tướng, mà chúng ta còn có sứ mạng giữ gìn làm sao cho anh em binh sĩ không thấy có sự tranh chấp, chia rẽ, nứt rạn trong nội bộ. Vậy với tư cách huynh đệ, hồi còn ở trong khu cũng như bây giờ, tôi vẫn một lòng thành khẩn và vô tư mong xây dựng cho uy tín chung của chúng ta, tôi yêu cầu tất cả quý Ngài có mặt tại đây hãy đồng lòng tấn phong cho Ngài Đại Tá Văn Thành Cao lên địa vị Tổng Chỉ Huy Lực Lượng Liên Minh (danh xưng mới). Quý vị nào không đồng ý, xin dơ tay cho biết.

Nói xong, tôi đưa mắt thấy ai nấy im lặng cúi đầu. Tôi mừng thầm rằng lời nói của tôi đã có hiệu lực. Đến lượt các ông Trần Minh Triết, Hồ Đức Trung, cùng lên tiếng phụ họa theo. Không một người nào dám dơ tay phản đối cả. Thế là Đại Tá Văn Thành Cao nghiễm nhiên chiếm địa vị của Cố Trung Tướng Thế ngày xưa. Ông Cao yêu cầu thư ký buổi họp ghi chép đủ lời phát biểu của mọi người và kết quả cuộc bầu cử vào biên bản.

Thủ Tướng Diệm nghe tin Văn Thành Cao được đoàn thể tấn phong, thì mặc dù chưa biết mặt mũi Cao là ai, ông cũng tức khắc thăng Cao lên cấp Thiếu Tướng Quân Đội Quốc Gia, rồi tổ chức một buổi lễ trước thềm Dinh Độc Lập, để giới thiệu ‘‘Tân Thiếu Tướng” Văn Thành Cao với các cấp. Mỉa mai thay, Thủ Tướng Diệm quyết định phong chức Thiếu Tướng cho Văn Thành Cao, mà lại không biết ông này vẫn theo thủ tục nội bộ xưa nay, yên chí ngồi đợi Thủ Tướng tự tay ban cấp hiệu và mũ nón cho mình, nên khi vào trình diện vẫn cứ mang cấp hiệu Đại Tá cũ của Liên Minh. Tới khi vỡ nhẽ, Thủ Tướng giật mình, vội giật ngay mấy ngôi sao trên vai áo của Tướng Nguyễn Ngọc Lễ đem gắn lên vai Cao, rồi lại “mượn tạm” chiếc mũ to tướng của Trần Văn Đôn (vì Cao hãy còn đội mũ chào mào Liên Minh) chụp vội lên đầu Cao, khiến ông này tối tăm mày mặt, không còn trông thấy gì nữa cả.

Văn Thành Cao được phong Tướng ít lâu, thì nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Mặt Trận Quốc Gia Kháng Chiến Việt Nam (ngày 20 tháng 8 Dương lịch), Trung Tá Trương Lương Thiện cũng được chính quyền thăng cấp Đại Tá trong một buổi lễ trọng thể tổ chức tại chân Núi Bà Đen, do chính ông Phụ Tá Quốc Phòng Trần Trung Dung đích thân lên tận nơi, ban cấp hiệu. Trước sau, trong đoàn thể

Liên Minh, chỉ có Văn Thành Cao, Trương Lương Thiện, và Hồ Đức Trung là chính thức mang cấp hiệu của chính phủ. Còn tất cả các sĩ quan, binh sĩ khác đều không được hưởng ân huệ gì. Trong những năm cuối cùng của chính quyền Diệm, Bộ Quốc Phòng và Bộ Tham Mưu mặc tình thao túng, ghét bỏ anh em Liên Minh ra mặt. Trái với lời cam kết của Thủ Tướng Diệm khi mời Liên Minh về hợp tác, là binh sĩ Liên Minh được quyền giữ nguyên các cấp bực của họ, bây giờ trái lại, họ bị phủ nhận và bị giáng cấp một cách phũ phàng, nhục nhã. Đã thế, 2 Trung Đoàn 60 và 61 (Trung Đoàn 61 mới thành lập sau) của Liên Minh cũng đều bị giải tán âm thầm. Sĩ quan bị thuyên chuyển đi nơi khác, còn binh sĩ các đơn vị thì bị chia cắt ra, “nhét” vào giữa các đơn vị không cùng một gốc tích với họ. Quá chán nản, tất cả số anh em ấy đều cởi bỏ áo mão, rút lui về sống cuộc đời dân sự. Trạng huống trên đây chứng tỏ ngay như Thủ Tướng Diệm cũng có lúc chóng quên lời hứa danh dự của mình. Hoặc giả lúc bấy giờ, ông đa đoan chuyện chính quyền mà vô tình để cho kẻ thuộc hạ ngược đãi những người bạn đồng minh thành tín. Không ngờ cái chết của Trình Minh Thế lại chóng đưa đến cái nông nỗi “dậu đổ bìm leo”.

Về phần Văn Thành Cao, sau khi được phong Tướng, thì liền rời bỏ Hành Dinh cũ ở đường Trương Minh Giảng, dọn về số 105 đường Công Lý là công thự của chính phủ.

Căn nhà này vốn thuộc quyền sở hữu của Bộ Thông Tin, nhưng lại đem cấp cho Huỳnh Hữu Nghĩa, khi Nghĩa được bổ nhiệm chức Bộ Trưởng Lao Động. Tướng Cao bèn thương lượng với Nghĩa, bắt buộc Nghĩa phải nhường ngôi nhà ấy cho mình, còn phần Nghĩa thì nhận cổng thụ khác trên mạn Dakao.

Nhắc lại, Huỳnh Hữu Nghĩa cũng như Lê Văn Đồng đều đã có công lớn với chính quyền trong cuộc vận động mời Tướng Thế về thành. Nên trong Nội Các cải tổ tới tháng 5 năm 1955, cả Huỳnh Hữu Nghĩa lẫn Lê Văn Đồng đều được trọng dụng, đều có chân trong Nội Các.

Ngày Tướng Thế còn sống, Thủ Tướng Diệm đã “khoán trắng” một phần Nội Các cho Liên Minh, để mặc Liên Minh tự ý kén chọn người đưa vào. Nhưng khi Tướng Thế mất rồi, thì người chính thức của Liên Minh không một ai tham chính cả. Trớ trêu thay, cá nhân Văn Thành Cao lại âm thầm thỏa hiệp riêng với Huỳnh Hữu Nghĩa, mặc nhiên coi Nghĩa là “người của Liên Minh” tham chính, trong khi ai nấy đều biết cá nhân Nghĩa chẳng có công lao, chẳng có liên hệ gì với Liên Minh cả, ngoài việc may mắn quen biết Tướng Thế thuở xưa nên mới được ông Nhu nhờ đứng làm trung gian buổi đầu. Việc này khiến nhiều anh em Liên Minh đã từng vào sinh ra tử với nhau hết sức bất bình, nhất là Trung Tá Nguyễn Trung Thừa, Trung Tá Cảm Văn Tỵ, Trung Tá Trần Minh Triết đều phàn nàn với tôi là tại sao lại để xảy ra một chuyện vô lý làm buồn lòng anh em chiến sĩ Liên Minh như thế. Tôi bèn chất vấn thẳng Thiếu Tướng Cao. Và một hôm, trong bữa cơm trưa có mặt Nghĩa, tôi nổi giận kịch liệt chỉ trích Nghĩa trước mặt Tướng Cao và Hồ Đức Trung. Tôi đã toan rút súng bắn Nghĩa ngay tại chỗ, nếu Cao không kịp ngăn cản.

Tôi bắt đầu để mắt tới cung cách của Tướng Cao kể từ ngày đó. Ông ta dần dần sống cách biệt, không hề một lần bàn tính tới việc trả thù cho Tướng Thế. Bao nhiêu vinh dự, bao nhiêu ân huệ của chính phủ đáng lẽ dành cho Trình Minh Thế, thì nay Cao đều hưởng cả một mình. Chẳng những Cao được cấp cho nhà ở, lại được cấp cả xe đi, là những điều mà xưa kia Trình Minh Thế chưa hề biết tới. Sự thể ấy càng khiến anh em Liên Minh thêm nhớ tưởng người lãnh tụ họ Trình và thấy ngậm ngùi. Ngày 15 tháng 2 năm 1956, Cao được chính phủ chỉ định làm Tư Lệnh Chiến Dịch Bình Định Miền Đông, với Đại Tá Nguyễn Hữu Có làm phó. Cao chính thức mời tôi làm Cố Vấn cho ông trong Chiến dịch ấy. Nhưng sau khi lên Tây Ninh quan sát tình hình, tôi từ chối lời mời, và quyết định bỏ nước ra đi. Bởi tôi thấy mình không thể nào tham gia vào một Chiến dịch nói là “Bình Định Miền Đông”, nhưng thực sự là nhằm giết chết cuộc đời của Tướng Nguyễn Thành Phương. Chẳng gì Phương với Liên Minh cũng là chỗ anh em thân thiết, Phương đã từng giúp đỡ Liên Minh khi còn ở Núi Bà. Nay “gà nhà bôi mặt đá nhau”, sao cho đành dạ. Sau đó, Cao được bổ nhậm vào Bộ Tổng Tham Mưu, đứng đầu một cơ quan mệnh danh là ‘‘Phòng Nghiên Cứu Du Kích Chiến”. Ngày mồng 6 Tết năm Tân Sửu, ngay sau vụ “Đảo Chính 11/ 11 /60”, Cao lại được bổ nhiệm chức Đại Biểu Chính Phủ Miền Đông, một chức vụ mà những ai biết rõ khả năng trình độ của Cao đều lấy làm lo ngại giùm cho ông.

Thành thực mà nói, tôi rất buồn cho tư cách của Văn Thành Cao sau khi ông về thành. Hồi còn ở trong khu, tôi thấy Cao có phong độ quả cảm, có tài chiến đấu. Vì vậy mà tôi đã hai lần nâng đở ông, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp đặt lên vai ông cấp hiệu Đại Tá rồi Thiếu Tướng. Nếu tôi xu phụ theo nhóm anh em Trương Lương Thiện, không tấn phong cho Cao lên thay thế địa vị của Tướng Thế, thì Thủ Tướng Diệm nào có biết Cao là ai? Tôi không ngờ ông càng hủ hóa trước cái bả vinh hoa phú quý. Thậm chí ông đã mù quáng chôn vùi cả sự nghiệp Cách Mạng Liên Minh, bằng lòng làm tay chân cho tên đại gian Nguyễn Văn Thiệu trong cái tổ chức gọi là Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia. Ông sống quá ích kỷ, không còn nghỉ gì tới bao nhiêu anh em cũ, những người đã từng đem xương máu ra gây dựng cho địa vị cá nhân ông bây giờ. Ngay cả với tôi, Cao cũng ra mặt tránh né, sợ bị liên lụy trong bước đường công danh. Các chiến sĩ Liên Minh có mặt trong hai Trung Đoàn 60 và 61 dần dần bỏ hàng ngũ, rút về sống âm thầm, vì quá buồn lòng trước sự bạc đãi của chính phủ mà Cao không hề bênh vực. Thậm chí, hơn một lần tôi đi Taxi, lúc trả tiền xe, tôi gọi bao nhiêu lần người tài xế cũng không chịu ngảnh mặt lại lấy tiền. Thì ra người ấy là một chiến sĩ Liên Minh, một bộ hạ trực tiếp của tôi, tên Nguyễn Văn Phước. Phước nhận ra tôi ngay phút đầu mà tôi thì vô tình không biết. Anh đầm đìa nước mắt, cùng tôi ngồi lại trên xe, kể lể chuyện xưa, than thở về nỗi bị Văn Thành Cao bỏ rơi, nên chán nản rút về làm nghề lái xe đưa khách độ nhật.

Cũng vì bất mãn Văn Thành Cao, thêm nỗi căm hận trước cái chết của Trình Minh Thế, mà nhóm Trương Lương Thiện, Nguyễn Văn Đờn, Lê Phước An, Nguyễn Văn Phương, rút số quân còn lại trong Núi Bà Đen, ra lập chiến khu mới chống lại chính phủ vào hồi đầu tháng 9 năm 1955. Tôi rất thông cảm cho thái độ của nhóm anh em này, nhưng tôi không tán thành cái nỗ lực “tái diễn” một Phong Trào Trình Minh Thế thứ hai trong cái hoàn cảnh gần như tuyệt vọng. Bao nhiêu lần Đờn sai liên lạc về mời tôi đi theo, bảo rằng “trong rừng núi này, bao nhiêu anh em đang đợi chờ anh, họ vẫn nhớ thương anh.” Thậm chí Đờn nhờ cả Phu nhân Cố Trung Tướng Thế tổ chức một bữa cơm tại nhà bà trên Tây Ninh, định sẽ thừa cơ hội “bắt cóc” tôi mang đi, Bà Cố Trung Tướng biết rõ âm mưu ấy, nên đã thú thật cho tôi biết. Tôi có nhắn bảo Đờn rằng: “Đời nay họa hoằn chỉ có một Trình Minh Thế chứ không thể có hai. Anh em có thể rút kinh nghiệm cũ để tổ chức chiến khu, nhưng anh em không có cái uy tín, cái tài năng lãnh đạo phi thường, cái óc chiến lược xuất chúng như Trinh Minh Thế, để duy trì hàng ngũ và nuôi sống phong trào. Tôi e cho anh em sẽ không đứng vững được bao lâu”.

Quả nhiên, sau vài lần tiếp xúc với viên đại diện chính phủ là Nguyễn Ngọc Thơ, các anh em Trương Lương Thiện, Nguyễn Văn Đờn thấy tình thế không xong, bèn giải tán quân binh rồi chạy qua Cao Miên tị nạn chính trị. Riêng Nguyễn Văn Phương thì bí mật trở lại Saigon, sau được Văn Thành Cao nâng đỡ đưa vào Quốc Hội.

Khi Dương Văn Minh lên cầm quyền, Trương Lương Thiện, Nguyễn Văn Đờn cùng về nước hoạt động chung với một số đoàn thể. Đờn chạy ngay tới tìm tôi, hùng hổ đặt vấn đề “phải xử tội” Văn Thành Cao, vì ông này, theo như lời Đờn nói, đã tự tiện phát mãi 11 mẫu đất vốn là tài sản chung của Liên Minh tọa lạc tại Ngã Tư Bảy Hiền.

Nguyên từ lúc Tướng Thế hãy còn sống, Liên Minh có dành dụm mua được mảnh đất kia do một địa chủ có cảm tình với Liên Minh bán lại với giá rẻ. Tướng Cao âm thầm dàn xếp bán đi mà không cho ai biết cả, số tiền thu được bao nhiêu cũng vẫn là một sự bí mật. Đờn lấy làm phẫn uất nên đe dọa xử tội Văn Thành Cao. Tôi bèn nghiêm nét mặt bảo Đờn:

– Chú không biết gì cả, chú đừng có hấp tấp làm to chuyện mà hại lấy thân. Chú không thấy sao? ông Cao ngày nay có quyền hành trong tay, có thế lực chính phủ còn phần chú thì hoàn toàn trắng tay. Dẫu chú có đem vấn đề ra bàn cãi trước mặt một số anh em, thì cũng chẳng đến đâu, không chừng lại còn rước lấy họa. Tôi khuyên chú hãy dẹp đi cái ý định ngông cuồng ấy. Hãy cứ nghe tôi, coi như của ấy là của phù vân, ai làm nên tội người ấy sẽ phải trả. Đờn cứng cổ cãi lại:

– Nhưng anh nghĩ xem, tài sản này do xương máu anh em Liên Minh góp lại, không ai có quyền được hưởng một mình. Thà đem biếu không cho thiên hạ, chứ ông Cao làm như thế sao được?

Tôi biết Đờn nông nổi mà không sao khuyên giải được. Câu chuyện đã trở thành đề tài sôi nổi trên cưả miệng những người Liên Minh còn sống sót. Chẳng bao lâu, tôi kêu ‘‘Trời” một tiếng khi nghe tin Đờn bị ám sát ngay trước cửa nhà mình trên Tòa Thánh Tây Ninh. Đờn bị giết khi sắp sửa lên xe, thủ phạm tỏ ra là một tay cảm tử thiện xạ, bắn vỡ ngay óc Đờn rồi trốn mất. Chẳng hề nghe nói tìm ra tông tích. Cả gia đình Đờn lên án Văn Thành Cao. Con gái Đờn xuống tận Saigon, khóc lóc nguyền rủa thậm tệ, yêu cầu “Các chú, các bác hãy thương cho Ba cháu mà làm sáng tỏ vụ này!” Tôi biết nói sao bây giờ? Tôi không dám thẳng thắn kết tội Văn Thành Cao, nhưng tôi buộc lòng phải nghi rằng Cao đã gây ra vụ “nồi da xáo thịt”, vì lúc bấy giờ, người đi sát cánh với Cao là Hồ Đức Trung, bấy giờ đã lên tới cấp Đại Tá và đương làm Tỉnh Trưởng Tây Ninh, có nhiệm vụ bảo vệ an ninh nơi Thánh Địa. Tại sao vụ ám sát Đờn lại không được điều tra? Đờn bị cộng sản giết chăng? Điều ấy không thể tin được, vì Tòa Thánh được tiếng là rất có an ninh trật tự. Đờn chết một cách oan uổng, có lẽ chết bởi ngay những người xưa kia cùng nằm gai nếm mật trong núi rừng Tây Ninh. Lúc Văn Thành Cao được Thủ Tướng Diệm phong chức Thiếu Tướng là lúc “ngôi sao” Nguyễn Thành Phương bắt đầu lu mờ. Phương khinh và ghét Cao ra mặt, bởi lẽ khi Phương lên tới cấp Tướng Cao Đài, thì Cao hãy còn là Đại Uý, không tên tuổi gì. Phương đã định “truất phế’’ Cao mà không được. Phương bèn trắng trợn tới Tổng Hành Dinh Liên Minh đặt vấn đề “đón tôi về với Cao Đài”. Hôm ấy, Văn Thành Cao, Hồ Đức Trung và tôi, nghe nói Phương muốn lại thăm, thì vội vàng tổ chức một bữa rượu đãi nhau. Ngà ngà say, Phương nói:

Nay chú Thế đã mất rồi, mà bên Liên Minh thì không có việc gì nhiều. Vậy tôi xin chú Cao hãy cho tôi đón chú N.L. Về bên tôi để cùng nhau hoạt động. Chú nghĩ sao? Tướng Cao giật mình, suy nghĩ một hồi lâu mới đáp:

– Thưa Ngài Trung Tướng, từ ngày Cố Trung Tướng Thế sống, anh N.L. đây là Cố Vấn của đoàn thể Liên Minh. Bây giờ anh em chúng tôi vẫn tuân theo lệ cũ, không dám có sự gì thay đổi. Anh em chúng tôi thật không dám nghe theo lời Trung Tướng được! Tướng Phương lại nói tiếp:

– Thì bên này với bên tôi cùng là một, chớ có xa lạ gì đâu!

Văn Thành Cao với Hồ Đức Trung vẫn khăng khăng từ chối. Tôi thấy mặt Phương lộ vẻ căm tức, và tôi đâm lo ngại cho cá nhân mình, bỗng không biến thành mục tiêu cho một cuộc tranh chấp có hứa hẹn đưa tới súng đạn. Vì là một cuộc tranh chấp ảnh hưởng giữa hai đoàn thể võ trang, giữa hai Tướng lĩnh vốn đã không có cảm tình với nhau. Tôi thấy sự đòi hỏi của Phương thật vô lý và ngạo mạn, mặc dù sự đòi hỏi ấy chứng tỏ lòng Phương mến yêu tôi.

Phương vẫn còn nuôi cái ý tưởng xem Liên Minh là “của Cao Đài”, một ý tưởng sai lầm tai hại. Thực ra, hai bên đã hoàn toàn cách biệt nhau kể từ giờ phút Tướng Thế rút quân ra khu hồi năm xưa. Mỗi bên có một tổ chức riêng, một nếp sống riêng, điều này ai cũng thấy rõ. Phương đã một thời niềm nở đón tiếp Hồ Hán Sơn, giao cho Sơn bao nhiêu trách vụ nặng nề. Rồi Phương lại hất hủi Sơn, rút Sơn ra khỏi Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng, xử tội Sơn vì một lỗi lầm nhỏ nhặt, để cho Sơn phải chết oan uổng bởi tay một tên bộ hạ ỷ thế thần. Bây giờ Phương lại định đón tôi về với ông, liệu rồi tôi có thoát khỏi cái cảnh thăng trầm kia chăng?- Không đón được tôi, rất cố thể Phương sẽ quay ra trừ khử tôi để cô lập Văn Thành Cao. Mặt khác, Văn Thành Cao cũng có thể tưởng lầm rằng tôi muốn bỏ Liên Minh để về với Cao Đài, nên mới kín đáo xúi Phương bầy ra trò “vay mượn người” như vừa kể. Do đó, Cao lại cũng sẽ tìm cách thanh toán tôi để trừ hậu họa theo như Cao tuởng tượng. Rút cục, đằng nào tôi cũng sẽ bị lâm nguy cả.

Chính vì sự tranh chấp gay go kia, chính vì tôi đã trông thấy số phận Hồ Hán Sơn, chính vì Văn Thành Cao mời tôi làm Cố Vấn cho ‘‘Chiến dịch Bình Định Miền Đông nhằm triệt hạ Nguyễn Thành Phương’’, nên tôi đã phải quyết định bỏ nước ra đi ngay tức khắc nhằm tránh một cái chết thê thảm. Ngoài ra, cũng còn một vài lý do khác khiến tôi xét thấy dẫu có chần chờ ở lại cũng không thể nào thể hiện cái tinh thần hợp tác với chính quyền Diệm đúng như đôi bên đã thề bồi cam kết tại Lò Gò ngày 31 tháng 1 năm 1955 được nữa. Là vì ngày nay Trình Minh Thế đã tử nạn, Văn Thành Cao được giao phó sinh mệnh của Liên Minh nhưng không làm được như Thế, để cho tinh thần Liên Minh mỗi ngày một sa sút. Riêng đối với tôi, thì thái độ bất thân thiện của một vài phần tử trong chính quyền cũng đã làm cho tôi chán nản. Nhất là khi mà tôi không hề có tham vọng chiếm đoạt quyền hành địa vị của ai, mà những người như Trần Chánh Thành, Nguyễn Ngọc Lễ lại cứ lầm tưởng tôi là mối nguy cho họ, nên ra tay phá phách, toan làm hại cả tính mạng tôi nữa, như việc bao vây trụ sở Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng, như vụ đón đường bắt tôi chẳng hạn. Tôi tự hỏi mình, liệu rằng các ý kiến của tôi có được chính quyền nghe theo nữa chăng, hay là thói đòi vẫn “phủ bênh phủ, huyện bênh huyện?” Vậy nên lánh mặt là hơn. Chứ tựu trung mối giao hảo giữa tôi với toàn thể gia đình nhà Ngô vẫn hoàn toàn tốt đẹp. Thậm chí ông Cố vấn Ngô Đình Nhu, mãi lâu không thấy tôi vào thăm, đã gọi điện thoại bảo tôi: “Cửa Dinh Độc Lập lúc nào củng mở sẵn đón anh, sao anh lại không đến?” Trong một dịp khác, ông tiếp tôi tại căn phòng làm việc khiêm tốn và nhỏ hẹp nép dưới cầu thang Dinh Độc Lập, và ông thẳng thắn nhìn tôi, nói: “Anh cần gì thì xin cho biết, để chính phủ lo cho anh!” Ôi thôi, một câu nói thốt ra từ cửa miệng một nhân vật đang có quyền thế, hứa hẹn biết bao nhiêu điều tốt đẹp tươi sáng cho cuộc đời. Nhưng tôi đã mỉm cười đáp lại “Thưa ông Cố Vấn, tôi chẳng cần gì hết. Đời sống hàng ngày đã có đoàn thể lo cho ngày hai bữa. Tôi thật không dám làm phiền chính phủ.”

Tôi biết ông Nhu muốn gián tiếp đền đáp tình tri ngộ và Thủ Tướng Diệm cũng cùng một ý ấy. Cả ông Ngô Đình Cẩn cũng thế. Ông Cẩn mến tôi cho đến nỗi hôm tôi ra thăm ông, lúc trở về ông còn tin cậy trao cả một xấp thư riêng, nhờ tôi chuyển lại cho người trong gia đình tại đường Nguyễn Tráng. Thời kỳ tôi ở nước ngoài, ông sai liên lạc tới điều đình mời tôi bí mật về nước bằng con đường Ai Lao, để làm Cố vấn cho ông. Nhưng tôi đã lể phép từ chối vì thấy trước vai trò nguy hiểm kia sẽ chỉ đưa đến thiệt thân mà thôi.

Một hôm tôi vào Dinh Độc Lập thăm ông Nhu, bất ngờ Thủ tướng Diệm đang ngồi làm việc chợt trông thấy tôi, liền niềm nở mời tôi ngồi lại nói chuyện. Hôm ấy, Thủ tướng Diệm say sưa kể cho tôi nghe những thành quả tốt đẹp của chính phủ. Thấy đôi má ông hơi nám đen chứ không đỏ đẹp như mọi ngày, tôi liền hỏi: “Thưa Cụ, dường như Cụ đang có điều gì lo nghĩ, nên trông sắc diện không được bình thường?” Thủ Tướng không ngần ngại đáp ngay: “Vâng, quả thật tôi đang tính kế hoạch bình định Miền Tây!” Tôi hơi giật mình trước sự tính toán mà tôi cho là liều lỉnh của vị Nguyên Thủ. Vì hồi ấy, Miền Tây là thành trì kiên cố của Phật Giáo Hòa Hảo, không dễ gì thọc tay vào đó được. Ngay cả phiá người Mỹ, theo tồi biết, cũng không dám dề nghị một kế hoạch nào cả. Vậy mà nay Thủ Tướng Diệm lại đang nuôi ý định chinh phục, khiến tôi coi là một điều đáng ngại. Thủ Tướng say mê chuyện trò cho đến nỗi quên cả chương trình tiếp khách ngoại quốc đang ngồi đợi. Đổng Lý Văn Phòng Quách Tòng Đức hai lần vào trao mảnh giấy nhỏ, lễ phép nhắc nhở. Nhưng Thủ Tướng Diệm chỉ khẽ liếc qua, rồi lại vò nát bỏ trong cái gạt tàn thuốc lá, xong lại cứ tiếp tục nói chuyện về tình hình Miền Tây. Tôi e cá nhân mình sẽ gây một trở ngại ngoại giao cho chính phủ, nên vội vàng xin phép rút lui. Bấy giờ Thủ Tướng Diệm mới chợt nhớ ra là tôi tới thăm ông Nhu, bèn tươi cười bảo: “Vâng, tôi chắc chú ấy đang có mặt trong phòng làm việc!”

Thủ Tướng Diệm là con người quá đức độ khiêm tốn, cái đức độ khiêm tốn đã chinh phục lòng tôi. Là một vị Nguyên Thủ với quyền hành bao trùm thiên hạ, lại xét về mặt tuổi tác, thì Thủ tướng đáng bực thúc phụ của tôi. Vậy mà trước sau con người đạo đức ấy vẫn một hai gọi tôi bằng “Ngài”, đối đãi một cách trọng hậu, làm cho tôi thấy bứt rứt trong lòng, nhưng chẳng dám đường đột xin ông bỏ cho cái tiếng “Ngài” kia đi. Đã thế, lúc ngồi đàm đạo với nhau, bao giờ Thủ Tướng cũng giữ thế ngồi nghiêm cẩn, không hề gác chân nọ lên chân kia, mà hai cánh tay thì đặt trên đùi hai bàn tay chắp lại nhau với mười ngón tay đều đặn ở trước mặt mình. Khi mời tôi dùng thuốc lá, Thủ Tướng có cử chỉ rất lạ, là dùng hai tay nâng cả khay thuốc lên, để mặc tôi chọn lựa thứ thuốc thích hợp, chứ không hề trịch thượng cất một tiếng “mời” suông, rồi mặc khách muốn hút hay không tùy ý. Về phần ông, khi hút thuốc thì dùng quẹt diêm, và dùng những loại thuốc sản xuất trong nước như “Grand Prix” hoặc “Cotab”. Đặc biệt là khi ông gặp sự gì kích thích hoặc giận dữ trong lòng, thì mỗi điếu thuốc chỉ hút chừng vài ba hơi rồi dụi ngay vào cái gạt tàn, xong lại đốt ngay điếu khác, rồi lại cũng dụi bỏ nửa chừng như thế. Hơn một lần, tôi vào Dinh Độc Lập không báo trước, vào lúc giữa trưa. Lính cận vệ trong Dinh cho hay Thủ Tướng đang dùng cơm trưa với một số nhân viên Nội Các. Tôi lại được dẫn ngay tới đó. Tức thì Thủ Tướng Diệm niềm nở sai đem thêm bát đũa và mời tôi cùng ngồi vào bàn một cách hết sức thân tình.

Nói về cách thức ăn uống của Thủ Tướng Diệm, tôi thấy quả thật là đạm bạc. Chẳng hạn như bữa cơm nguội lạnh đãi khách lúc 3 giờ khuya đêm 30/ 4/ 55 sau khi Tướng Vỹ đầu hàng, tôi bắt gặp hai món canh bầu và chả trứng, chứ cũng chả có gì là cao lương mỹ vị. Tôi thật không ngờ. Tôi lại được biết là Thủ Tướng Diệm bình sinh thích dùng điểm tâm bằng cháo đậu xanh với đường cát. Thế mà đầu bếp đã “đãi” ông cái món bình dân ấy suốt 3 tháng trời không thay đổi.

Năm 1970, bấy giờ cựu Bộ Trưởng Trần Chánh Thành đã là một thành viên của “Ủy Ban Phối Hợp Hành Động Các Chính Đảng”. Sau khi tôi với Thành đã uống chén rượu “cảm thông” nhau, Thành và ông Vũ Quốc Thông thân hành hướng dẫn tôi vào Nghĩa Trang Mạc Đĩnh Chi viếng thăm hai ngôi mộ của Cố Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu. Đứng nhìn hai tấm bê tông lạnh lẽo, tà tà trên mặt đất, che đậy tàn cốt của hai nhân vật lãnh đạo thuở xưa, rồi lại nhìn tới ngôi tháp mộ đồ sộ, cao chót vót của Tướng Lê Văn Tỵ đối diện ngay nơi ấy, tôi cảm thấy mỉa mai khôn xiết kể, và tôi không biết nói sao cho hết nỗi chua xót trong lòng. Cả bọn chúng tôi đều ứa nước mắt. Ai là thầy? Ai là tớ? Ai trên? Ai dưới? Ai công hầu? Ai khanh tướng đây? Tại sao lịch sử lại cố ý tạo ra một cảnh tượng diễu cợt quá đáng dường này?

Từ ngày Tướng Thế mất đi, Nguyễn Thành Phương chống chính quyền ra mặt, Phương đã mất chức Quốc Vụ Khanh, lại còn bị Đức Hộ Pháp đe dọa truất quyền Tổng Tư Lệnh Cao Đài, nên Phương cuống cuồng làm nhiều chuyện đáng tiếc. Phương luôn luôn tổ chức tiệc tùng, mời cả quan khách chính quyền tới dự. Rồi với ly rượu mạnh trên tay, Phương công khai kích bác chính phủ, nói với giọng tự tin rằng ông ta sẽ quật ngược tình thế. Tôi lấy tư cách anh em khuyên nhủ Phương hãy nên thận trọng, nhưng Phương vẫn tính nào tật ấy, không chừa. Thậm chí có một hôm ông Cố Vấn Nhu phải công khai tỏ nỗi bất bình, mà bảo riêng với tôi rằng: “Anh Phương làm nhiều điều quái gở không thể chấp nhận được. Hàng tháng, anh ấy nhận tiền chính phủ trợ cấp cho Quân Đội Cao Đài, không dùng tiền nuôi lính, mà lại đem tổ chức tiệc tùng, huyênh hoang tuyên bố chống lại chính phủ. Cụ hết sức bất bình. Vậy nhờ anh có dịp thì nói lại cho anh Phương biết để anh ấy xử sự sao cho hợp lẽ!”

Khi tôi thuật lại lời ông Nhu, thì Tướng Phương lại cãi chày cãi cối rằng: ‘‘Tôi đâu có chống chính phủ, tôi nói xây dựng đó chớ!”.

Tôi biết Phương tự xe giây buộc mình, nên tôi sẵn sàng chờ đợi sự rủi ro đến với ông. Một bên thì chính phủ nghi ngò, một bên thì Đức Hộ Pháp lăm le truất bỏ, Phương nhắm mắt bước thêm một bước xuống hố sâu. Ngày 31 tháng 3 năm 1955, bỗng nhiên Phương đem toàn bộ Quân Đội Cao Đài giao cho chính phủ, trước sự kinh ngạc của Thủ Tướng Diệm. Tướng Phương mời tôi tới tư dinh ổng, bảo thật cho tôi biết rằng sở dĩ ông quyết định “Quốc gia hóa” Quân Đội Cao Đài là nhằm đặt Đức Hộ Pháp trước sự đã rồi, để Đức Ngài không còn lực lượng võ trang riêng nữa mà tính chuyện truất phế ông và đưa người khác lên thay. Tôi quá sợ hãi hỏi ông: “Như vậy có phải là Ngài định thoát hẳn ra ngoài quyền hạn của Đức Hộ Pháp chăng?” Ông không trả lời, nhưng thái độ của ông cho thấy ông định đi vào con đường ấy. Một buổi lễ “Quốc gia hóa” được tổ chức vội vàng tại Dinh Độc Lập, bài diễn văn do cựu Bộ Trưởng Phạm Xuân Thái thảo ra, Thái lắc đầu than thở với tôi, mà chẳng dám hé môi trước mặt Tướng Phương. Tôi có cảm tưởng như đang tham dự một “đám cưới chạy tang”. Tôi thật không hiểu nổi Trung Tướng Nguyễn Thành Phương, người mà tôi cứ tưởng là rất sáng suốt mưu lược.

Thủ Tướng Diệm ngạc nhiên là vì lâu nay chính phủ cũng muốn khống chế Quân Đội Cao Đài, nhưng chưa dám ra tay vì còn nể mặt Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc. Không ngờ Trung Tướng Nguyễn Thành Phương bỗng nhiên đem món quà quý trao tay, không cần phải thương lượng điều đình gì hết, khiến Thủ Tướng Diệm mừng thầm là phải.

 

Thủ Tướng bèn trả ơn bằng cách chính thức phong chức Trung Tướng cho ông Nguyễn Thành Phương, nghĩa là từ nay Trung Tướng Phương là người thụ phong chính phủ chứ không còn thuộc quyền Đức Hộ Pháp nữa.

Tuy nhiên, dù đã tự đặt mình dưới quyền Thủ Tướng Diệm, dù đã “Quốc gia hóa” lực lượng Cao Đài, Tướng Phương vẫn tiếp tục chống báng chính phủ bằng cách này hay cách khác, chống một cách tiêu cực và vô tổ chức. Đó mới là sự lạ. Lạ ở chỗ ông Phương không còn một đồng minh nào cả sau khi Mặt Trận Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia tan rã âm thầm, và Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng cũng tự coi như đã hết nhiệm vụ sau khi Thủ Tướng Diệm tổ chức cuộc Trưng Cầu Dân Ý ngày 26 tháng 10, để trở thành vị Tổng Thống đầu tiên của nền Đệ Nhất Cộng Hòa. Tức nước vỡ bờ. Thủ Tướng Diệm bèn hạ lệnh mở Chiến Dịch Bình Định Miền Đông, và cắc cớ giao cho Tướng Văn Thành Cao cầm đầu chiến dịch. Dư luận hết sức ngạc nhiên, còn Tướng Phương thì như chết đứng giữa trời. Dù Văn Thành Cao có tình đồng đạo với ông chăng nữa, bây giờ Văn Thành Cao đã đứng địa vị chính quyền, thì “ăn cây nào, rào cây ấy”, Cao không thể vì tình anh em cố cựu mà nương tay được. Huống chi, Cao vừa được lệnh, là lập tức lập Bộ Chỉ Huy Chiến Dịch ngay tại một khách sạn ở Tòa Thánh Tây Ninh, khách sạn này do ái nữ Đức Hộ Pháp làm chủ, không khác nào thọc ngay một mũi dao vào yết hầu của Tướng Phương vậy. Tôi cho rằng chính quyền đã hạ một ngón độc thủ vô tiền khoáng hậu, dùng người Cao Đài trị người Cao Đài. Tướng Phương khốn khổ đã đành, mà Tướng Cao cũng chẳng còn danh nghĩa gì nữa cả.

Trong cơn bối rối, Tướng Phương chẳng biết làm gì hơn, lại quay ngược về tấn công Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, một việc làm mà cả Thủ Tướng Diệm lẫn Cố Vấn Nhu đều thú nhận là không bao giờ họ dám nghĩ tới. Ông Nhu nói thật với tôi: “Cụ bảo là Cụ bàng hoàng trước hành động của anh Phương đối với Đức Hộ Pháp. Cá nhân Cụ bình nhật không dám có một lời thất thố đối với Ngài, chứ đừng nói là công khai nguyền rủa chống báng. Vậy mà anh Phương dám làm, thì còn ai hiểu nổi?”

Quả thật Tướng Phương đã làm một chuyện tày trời, chấn động lòng người Cao Đài ở khắp nơi. Ông mở cả một chiến dịch hạ bệ Đức Hộ Pháp, ông giao cho người bộ hạ là N.N.V. làm tất cả những gì có thể làm được để bôi nhọ uy danh Đức Hộ Pháp. N.N.V. tha hồ làm mưa làm gió, tuyên truyền nói xấu, thêu dệt ra hàng trăm hàng ngàn chuyện ngoài sức tưởng tượng về cuộc đời riêng của Đức Hộ Pháp, khiến đồng bào đạo hữu hết sức phẫn uất đau lòng, nhưng nào có dám phản ứng vì còn sợ “hung thần” N.N.V. Cuối cùng, Đức Hộ Pháp đành phải bỏ Thánh Địa, bỏ nước ra đi vào dịp Tết năm ấy, sang Nam Vang trú ngụ tại Thánh Thất Cao Đài ở gần cầu Saigon.

Nếu Tướng Phương muốn tìm “chiến thắng” đối với “Người Cha” lãnh đạo tinh thần, thì đó là chiến thắng hoàn toàn, nhưng là một chiến thắng làm tiêu tan cả cuộc đời quân sự lẫn chính trị của ông! Thủ Tướng Diệm khinh ông ra mặt, khinh một người phản đạo phản thầy tới cái mức “lưu xú vạn niên”. Thủ Tướng Diệm là người đạo đức, triệt để tôn trọng luân thường, nên không thể tha thứ một người như Phương. Ông bèn quyết định cắt nguồn tài trợ hàng tháng cho Tướng Phương, khiến tình hình nội bộ Cao Đài khủng hoảng một cách trầm trọng. Thậm chí, cũng dịp Tết năm ấy, Đại Tá Nguyễn Thành Danh (anh ruột Tướng Phương, và là Tổng Thư Ký Việt Nam Phục Quốc Hội) đã phải hớt hải chạy tới tìm tôi, nhờ tôi mượn hộ cho 15 ngàn bạc để “anh em cán bộ ăn Tết!” Thảm thương biết chừng nào! Tiếp đó Tướng Phương bị đuổi ra khỏi tòa nhà chính phủ số 195 đường Công Lý, và bắt đầu nhận chịu một cuộc ‘‘bao vây kinh tế’’ rất là chặt chẽ, cho đến nỗi không còn phương tiện tối thiểu sinh sống hàng ngày.

Một người bộ hạ của tôi, anh N.T.D. (sau túng cùng, đi làm nghề đạp xích lô độ nhật), thấy hoàn cảnh ngặt nghèo của Tướng Phương thì lấy làm đau xót, bèn cố gắng ngày ngày dành dụm chút ít tiền kiếm được, mua rau mua mắm ngoài chợ Saigon, rồi lợi dụng lúc tối trời, lẻn vào nhà riêng của Tướng Phương tại đường Yên Đổ, trao cho ông mấy món thực phẩm rẻ tiền. Tướng Phương đã phải trả giá quá mắc về cách cư xử vụng về của ông đối với chính quyền buổi đương thời. Hòa chẳng ra hòa, chống không ra chống, chỉ tổ gieo trong đầu óc ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu bao nhiêu ý nghĩ bực dọc, biến dần thành một chính sách nghiệt ngã.

Thuở ấy, chính phủ Phi Luật Tân, theo lời đề nghị của Tướng Edward Lansdale và được sự tiếp tay đắc lực của Tùy viên Quân Sự Phi là Đại Tá Benzon, có mở một chiến dịch gọi là “Brotherhood” nhằm giúp đồng bào di cư về mặt y tế. Một đoàn bác sĩ Phi được gửi sang Việt Nam, trong số có 5 người trẻ tuổi và gồm một nữ bác sĩ được Saigon phái lên Tây Ninh hoạt động. Chẳng may một hôm, mấy vị bác sĩ kia dùng thuyền máy đi chơi trên sông Vàm Cỏ Đông, thuyền bị lật úp, có 3 người tử nạn. Tướng Phương phải chịu trách nhiệm. Và riêng tôi, vì tình liên đới, cũng phải ghé vai chia sẻ một số công việc, phải lo tẩn liệm các thi hài, lo tống tiễn các cỗ quan tài lên sân bay để đưa về xứ. Tưởng thế là xong, không ngờ Tướng Phưong lại bày vẽ thiết lập đài Kỷ Niệm trên bờ sông Vàm Cỏ, ngang Bến Kéo. Hôm khánh thành đài Kỷ Niệm ấy, ông Cố vấn Ngô Đình Nhu cũng có tới dự. Nhưng khi xong cuộc, ông Nhu nói riêng với tôi bằng giọng bất mãn:

– Anh Phương đã qua mặt chính phủ, làm một việc ngoài quyền hạn của anh ấy. Mấy người bác sĩ kia tuy hoạt động tại Tây Ninh, nhưng họ giúp đỡ chính quyền chứ không giúp đỡ riêng cho Cao Đài. Vậy lý do gì anh Phương tự tiện xây đài Kỷ Niệm? Cụ hết sức bất bình.

Nghe ông Nhu nói, tôi thốt giật mình, và tôi cũng phải nhìn nhận là ông nói có lý. Tướng Phương vô tình tiếp tục gây đụng chạm, cho tới khi ông đứng chung liên danh ứng cử Tổng Thống với Nguyễn Đình Quát, công khai chống lại Tổng Thống Diệm, thì kể như tình nghĩa giữa ông với chính quyền hoàn toàn chấm dứt. Cái họa ông phải gánh lấy.

Tôi rất quý mến Tướng Phương. Dù sao ông cũng là ân nhân của Liên Minh trong những ngày lận đận nơi Núi Bà Đen. Ông thật sáng giá khi có quyền trong tay. Chỉ tiếc là ông thiếu hẳn một bộ óc chiến lược của con nhà quân sự, nên đã phạm khá nhiều lỗi lầm trong vai trò lãnh đạo Quân Đội Cao Đài và Việt Nam Phục Quốc Hội. Tôi đau buồn hộ ông, nhưng tôi không làm sao giúp ông gìn giữ sự nghiệp cá nhân kể từ lúc ông bất thần “Quốc gia hóa” Quân Đội Cao Đài một cách thiếu tính toán. Kiểm điểm lại thành tích, người ta thấy ông đã vô tình hoặc cố ý để cho một chiến sĩ tài ba như Hồ Hán Sơn phải mai một, ông đã làm tiêu tan Quân Đội Cao Đài, đã hủy diệt Việt Nam Phục Quốc Hội, và đã đưa Đức Hộ Pháp tới bước đường cùng, phải lưu vong và thất lộc nơi hải ngoại.

Nói về Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, theo tôi thấy, nếu không có Nguyễn Thành Phương làm chuyện phản nghịch, thì suốt đời Ngài vẫn có thể an thân nơi Thánh Địa Tây Ninh, vì Tổng Thống Diệm rất kính nể Ngài, dù Ngài có chống báng chính quyền cũng không sao cả. Tiếc rằng vì Phương, Ngài phải làm một chính khách lưu vong nơi xứ Chùa Tháp. Thoạt tiên, Quốc Trưởng Norodom Sihanouk rất có lòng biệt đãi Ngài, tôn kính Ngài như một bực Thần Thánh, thậm chí lúc nào Sihanouk cũng gọi Ngài là “Sa Sainteté Le Pape” (Đức Thánh Cha). Có lẽ Ngài đã suy diễn sai sự tôn kính ấy, nên đã hoạt động hơi quá mức khiến Sihanouk dần dần đổi thái độ và quay lại đối xử với Ngài không được tốt đẹp như trước.

Số là khi mới tới Phnom Penh, Ngài công bố lập trường trung lập về vấn đề Việt Nam. Ngài gửi thư tới khắp các Phái Bộ Ngoại Giao tại Cao Miên, kể cả các nước cộng sản như Nga Sô, Ba Lan, Tiệp Khắc, Trung Cộng..v..v., cho biết là Ngài muốn đóng vai trò ‘‘Tối cao hòa giải” giữa hai miền Nam Bắc Việt Nam. Ngài được sự tiếp tay đắc lực của Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa, ông này luôn luôn dẫn giắt một số đạo hữu địa phương tham dự các cuộc biểu tình tuần hành của dân chúng Cao Miên ủng hộ chính quyền Sihanouk. Ông tỏ ra “trung lập” hơn cả Đức Hộ Pháp. Như vậy mà sao Sihanouk lại chẳng bằng lòng? Âý chỉ vì ít lâu sau, Đức Hộ Pháp ban lệnh xây cất một Thánh Thất Cao Đài thật đồ sộ tại Nam Vang, với lối kiến trúc quy mô tốn kém gần như là “anh em” với Tòa Thánh Tây Ninh. Ngân phí nghe nói hơn 5 triệu bạc Miên lúc bấy giờ. Đức Hộ Pháp lại sai đón thợ giỏi từ Tây Ninh lên trông coi việc kiến trúc. Xứ Cao Miên là một xứ coi Phật Giáo Tiểu Thừa là quốc đạo. Sihanouk có lẽ đã lo ngại trước sự bành trướng của Cao Đài ở ngay trong nước, lo ngại trước ảnh hưởng cá nhân của Đức Hộ Pháp, nên đã bất thần ra lệnh cấm chỉ việc xây cất Thánh Thất kể trên, tọa lạc tại một khu đất rộng ở gần “Bệnh Viện Nga”, một bệnh viện tối tân nhất do Nga Sô viện trợ cho chính quyền Sihanouk. Thế là cả một công trình kiến trúc to tát đã gần xong lại đành bỏ dở. Được biết là Đức Hộ Pháp rất đau buồn về chuyện ấy. Ngài lâm bệnh rồi mất vào năm 1959. Ngài được tẩn liệm theo nghi thức Tôn Giáo Cao Đài, ở cái thế ngồi trên ngai, rồi được an táng ngay bên cạnh Thánh Thất bị bỏ dở kia. Tôi có đến viếng thánh thể Ngài khi Ngài vừa lâm chung, và dự tang lễ được tổ chức rất trọng thể.

Trở Về

Tìm Kiếm