Lịch Sử

Đâu Là Sự Thật Về Ngày 19-8-1945: Việt Minh Cướp Chính Quyền?

…..

Đâu Là Sự Thật Về Ngày 19-8-1945: Việt Minh Cướp Chính Quyền?

Mường Giang

download (1)Ngày nay ai cũng biết cuộc kháng chiến chống Pháp, sau khi thực dân trở lại tái chiếm VN vừa lúc thế chiến II chấm dứt. Ðó là xương máu chung của toàn thể quốc dân VN, chứ không riêng của đảng CS hay cái gọi là cách mạng tháng tám, tháng mười, mà bấy lâu nay đảng Hồ cứ rêu rao tuyên truyền để lừa bịp công luận.

Ðây là một chặng đường lịch sử vô cùng quan trọng, vì chính nó đã dự phần quyết định vận mệnh của đất nước và dân tộc Việt như hôm nay chúng ta đã biết. mà khởi đầu bằng một giai đoạn ngắn ngủi từ 9-3-1945 tới ngày 3-9-1945.

Ngày 9-3-1945, Nhật chấm dứt 80 năm đô hộ của giặc Pháp trên toàn cõi Ðông Dương. Ngày 25-8-1945 Nhật cũng cáo chung quyền lực tại đây. Rồi sau đó là sự ra đời của hai chính phủ ‘VN độc lập’, một của người Quốc Gia lãnh đạo và chính quyền kia, ra đời từ sau ngày 9-3-1945 do Mặt trận Việt Minh đoạt được, khi người Nhật bỏ ngõ VN, qua sự góp sức và yểm trợ vũ lực của Sở Hành Ðộng Chiến Lược Mỹ (OSS).

Ðó cũng là một báo hiệu của cuộc đổ máu chín năm sắp tới, không bắt đầu từ cái gọi là VN Ðộc Lập Ðồng Minh Hội mới thành lập, mà là sự nối tiếp chặng đường đấu tranh của toàn dân Việt, có từ năm 1859 khi thực dân Pháp bắt đầu cưỡng chiếm VN. Trước khi Việt Nam Cộng Hòa bị Cộng Sản VN – Ðệ Tam Quốc Tế cưỡng đoạt vào ngày 30-4-1975, phần… Continue reading

Việt Minh giết Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ và lãnh tụ giáo phái ở Nam Kỳ

…….

Việt Minh giết Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ  lãnh tụ giáo phái ở Nam Kỳ

Hứa Hoành

INK.003Trong lịch sử chống ngoại xâm, chưa có cuộc chiến tranh vệ quốc nào kỳ cục như cuộc kháng chiến chống Pháp vào năm 1945 mà CS gọi là “Cách mạng tháng 8”. Dùng thủ đoạn mua chuộc, dụ dỗ, lừa bịp, gây chia rẽ, khủng bố, tàn sát… để chiếm cho được chính quyền trong tay người quốc gia, Việt Minh lãnh đạo cuộc kháng chiến đi lòng vòng, phí biết bao nhiêu nhân lực, vật lực, tài lực, đến khi chiến thắng thì đất nước đã khánh tận. Kéo dài cuộc kháng chiến để họ có đủ thời giờ “hy sinh những người anh em” ngoài đảng. Nhờ những người này, đảng CS mới hưởng được vinh quang.

Bài này kể lại những điều tai nghe mắt thấy của người trong cuộc. Có người theo suốt cuộc kháng chiến tới ngày thành công, có người bỏ cuộc vì thấy rõ dã tâm của người CS, có người là nạn nhân của những vụ ám sát hụt, có kẻ bàng quang. Dù ở cương vị nào, hoàn cảnh nào, ai cũng thấy rõ một điểm chung : tính chất lừa bịp của CS, sư lừa bịp vĩ đại hào nhoáng nhứt trong lịch sử của dân tộc VN. Chúng ta cũng nên nghiêng mình trước các anh hùng liệt sĩ đã xả thân chiến đấu và bị lợi dụng, không chết trước họng súng kẻ thù thực dân Pháp mà lại chết vì sự khủng bố tàn nhẫn của người CS.

Lâm Ủy Hành Chánh của Trần Văn Giàu được thành lập vào ngày 24/8/45, thì hôm sau “Quốc Gia Tư Vệ Cuộc” ra đời. Trái ngược… Continue reading

Một số chi tiết về Phan Văn Hùm

…..

Một số chi tiết về Phan Văn Hùm

…..

INK.417

Phan Văn Hùm (1902 – 1946)

Trần Nguơn Phiêu

LTS.- Ðây là một đoạn trích thuật từ cuốn hồi ký của Bác sĩ Trần Nguơn Phiêu viết về một nhà cách mạng nổi danh là Phan Văn Hùm. Ký ức này là di sản quí báu và hàm chứa những dữ kiện khá mới là cho tới nay mới được tiết lộ về Phan Văn Hùm.

MIỀN NAM TRONG KHÓI LỬA

Ðầu năm 1945, không quân Mỹ đã bắt đầu gia tăng đánh phá thiết lộ xuyên Ðông Dương. Ngay cả thành phố Sài Gòn cũng đã nhiều lần bị giội bom, nhất là về phía thương cảng Khánh Hội. Tất cả sự kiện trên là những báo hiệu có thể quân đội Ðồng Minh sẽ đổ bộ lên bán đảo Ðông Dương, hầu cần quan trọng của quân đội Nhật.

Ở về phía Bắc, Việt Minh đã thiết lập được các khu du kích và an toàn khu. Tháng 5 năm 1945, Hồ Chí Minh đã về hẳn trong an toàn khu do Chu Văn Tấn bảo vệ. Việt Minh đã nhận được sự trợ giúp của cơ quan tình báo OSS của Mỹ. Về phía Trung Hoa, Tướng Trương Phát Khuê cũng đã yểm trợ Hồ Chí Minh phần nào để chuẩn bị cho kế hoạch Hoa quân nhập Việt. Trước việc Ðồng Minh đang chuẩn bị tấn công Nhật trên bán đảo Ðông Dương, Hồ Chí Minh đã phái hai đại biểu đến Côn Minh để gặp lãnh sự Pháp và đề nghị sự hợp tác với “người Pháp mới, tự do”.

Chánh quyền Decoux đã ra lệnh đánh trả đũa quân du kích Việt Minh từ tháng 11, 1944. Họ đã triệt hạ, đốt phá nhiều… Continue reading

Thế chiến II: trại tù kinh hoàng của quân Nhật

…..

Thế chiến II: trại tù kinh hoàng của quân Nhật

INK.408

Hàng chục ngàn quân nhân Anh đã phải chịu đựng sự đối xử tàn bạo trong các trại tù của Nhật thời Thế chiến II. Clare Makepeace và Meg Parkes ghi lại một số câu chuyện đáng chú ý từ những người sống sót.

Bob Hucklesby, năm nay 94 tuổi, từ vùng Dorset, với dáng đi tuy chậm rãi nhưng thái độ cương quyết, thật khó có thể hình dung những gì cơ thể và tâm trí ông từng trải qua.

Ông là một trong số 50.000 quân nhân phải trải qua giai đoạn tồi tệ nhất trong lịch sử quân sự Anh. Ông cũng là người dẫn dắt lễ tưởng niệm 70 năm ngày VJ (Victory over Japan Day – ngày chiến thắng Nhật Bản) hôm thứ Bảy 15/08.

Chưa từng có tiền lệ, và cả cho tới sau này, lực lượng vũ trang Anh Quốc lại có số quân nhân bị đẩy vào hoàn cảnh cùng cực về địa lý, bệnh tật và sự đối xử vô nhân giữa người với người như những tù binh của Nhật trong Thế chiến II.

Một phần tư số tù binh bị chết trong giam cầm. Những người sống sót trở mang theo bệnh tật và bị tổn thương.

Trong suốt ba năm rưỡi, họ sống trong điều kiện tàn nhẫn đến mức hủy hoại con người.

INK.409
Cựu binh Bob Hucklesby (hàng giữa, thứ hai từ bìa phải) cùng đồng đội trong ngày tưởng niệm 15/08 ở London
INK.410
Nữ hoàng Anh và Hoàng thân Philip tới gặp các cựu tù binh Thế chiến II hôm 15/08

Trung bình mỗi tù nhân nhận được chưa đầy một chén gạo hẩm mỗi ngày. Khẩu phần ăn quá ít ỏi dẫn tới suy… Continue reading

Nhật hoàng ‘hối hận’ về Thế chiến II

…..

Nhật hoàng ‘hối hận’ về Thế chiến II

INK.406
Nhật Hoàng Akihito và Hoàng hậu Michiko trong buổi lễ tưởng niệm.

 

Nhật hoàng Akihito lần đầu tiên bày tỏ “hối hận sâu sắc” về vai trò của Nhật Bản trong Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Ông phát biểu tại một buổi lễ để đánh dấu 70 năm kể từ ngày Nhật Bản đầu hàng.

Thủ tướng Shinzo Abe nói những người Nhật phục vụ tổ quốc và thiệt mạng đã “hy sinh tương lai của mình”, nhưng vào hôm thứ Sáu, ông đã bị cáo buộc ‘không xin lỗi đúng đắn’ về các hành động của Nhật Bản.

Một buổi lễ cũng đã được tổ chức tại căn cứ hải quân Mỹ Trân Châu Cảng, nơi mà cuộc xung đột khởi phát ở Thái Bình Dương.

Hơn 2.000 người đã thiệt mạng trong cuộc tấn công bất ngờ của Nhật Bản vào năm 1941, sự kiện đã kéo Mỹ vào cuộc chiến.

Thành viên của Hải quân Hoa Kỳ và các chức sắc từ Mỹ và Nhật Bản đã đặt vòng hoa và gắn một biển tưởng niệm mới tại hiện trường.

Tại lễ tưởng niệm ở Tokyo vào thứ Bảy, ông Abe và Hoàng đế Akihito đã mặc niệm một phút.

Hoàng đế Akihito tỏ giọng hối lỗi hơn ông Abe, khi Nhật hoàng bày tỏ hối hận về chiến tranh xâm lược của nước này.

“Tôi tham dự buổi lễ tưởng niệm này với một nỗi niềm ân hận sâu sắc…

“Tôi thiết tha hy vọng rằng sự… Continue reading

Thỏa hiệp án 14/9/1946: ông Hồ cấu kết với Pháp để tiêu diệt các đảng quốc gia

Hứa Hoành

INK.424

* Kéo rốc sang Pháp làm gì?

Lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến nay, còn nhiều bí ẩn chưa được giải tỏa. Người bàng quan, các thế hệ sau, sẽ không thấy được những âm mưu thầm kín của ông Hồ đã tiêu diệt người quốc gia, nếu như chúng ta không phát hiện được những bí mật lịch sử đó. Chúng tôi may mắn được nhà sử học Chính Ðạo, tức tiến sĩ Vũ Ngự Chiêu, cho phép sử dụng nhiều tài liệu quý giá mà ông sao lục từ các văn khố, thư viện của bộ Thuộc Ðịa, bộ Ngoại Giao Pháp… để làm sáng tỏ nhiều uẩn khúc lịch sử, vốn bị CS che giấu, nhiễu loạn từ hơn nửa thế kỷ quạ Chúng tôi chân thành cảm tạ Tiến sĩ Chiêụ Trong loạt bài nầy, chúng tôi sẽ trưng bằng chứng về những hành vi phản bội quyền lợi dân tộc của ông Hộ Nổi thao thức của ông Hồ lúc nầy là Việt Minh phải nắm chính quyền, không chia xẻ, nhượng bộ cho bất cứ đảng phái nàọ Ðó là đường lối nhất quán, trước sau như một của đảng cộng sản. Ðây cũng là dự mưu, từ khi ngoài rừng núi Tân Trào kéo về Hà Nộị ‘ Căn cứ vào kết quả của cuộc thảo luận của ông Hồ cùng các cán bộ, thấy rằng công cuộc phát triển cách mạng của họ sẽ dẫn đến 2 trường hợp:

– Một là đủ sức cướp chính quyền, bản thân họ có đủ điều kiện để đàm phán bình đẳng các vấn đề với các nước Ðồng minh…

– Hai là lực lượng bản thân (Việt Minh) còn yếu kém… Việt Minh phải suy nghĩ đến việc cùng với… Continue reading

SỰ NGỤY TẠO VỀ “MÙA THU ĐỘC LẬP”

Đặng Chí Hùng

INK.423

Đảng cộng sản và ông Hồ Chí Minh đã nắm quyền cai trị bằng dấu mốc “cướp chính quyền” và sau đó đã duy trì quyền lực bằng mọi thủ đoạn mị dân. Cho đến nay, nhờ vào đội ngũ bồi bút mang hàm giáo sư sử học, tiến sỹ nghiên cứu của đảng, họ đã nhào nặn nên một cuộc Cách Mạng Mùa Thu hoàn toàn giả tạo. Chính việc này đã làm cho không biết bao nhiêu thế hệ người Việt bị rơi vào một cái bẫy: “Đảng cộng sản, Hồ Chí Minh dù có sai lầm cũng có công kháng Pháp, giải phóng dân tộc”. Nhưng sự thật có phải như vậy không?

A. Cách mạng chẳng qua là một cuộc cướp chính quyền của cộng sản:

1. Sơ lược về tình hình thế giới:

Sau khi Mỹ thả 2 quả bom nguyên tử xuống đất Nhật, san bằng 2 thành phố Hiroshima ngày 6 tháng 8 năm 1945, và Nagasaki ngày 9 tháng 8 năm 1945, Hoàng Đế Nhật Bản phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện vào ngày 15 tháng 8 năm 1945. Nhờ vậy, đại chiến thế giới lần II, do phe Phát Xít Đức, Ý, Nhật chủ xướng từ năm 1939 được coi là chấm dứt hoàn toàn trên cả 5 Châu: Âu, Phi, Á, Úc, và Mỹ.

Khi kết thúc đại chiến thế giới lần II, chính phủ Mỹ hỗ trợ Cao trào các Tiểu nhược quốc Thuộc địa trên toàn Thế giới, đang bị các nước Thực dân Đế quốc da trắng đô hộ cai trị áp bức, vùng lên giành lại Độc lập Tự do cho Dân tộc mình, để xây dựng Thể chế Chính trị theo mô thức Dân chủ Tự do Tư bản.

Trong… Continue reading

SỰ KHÁC BIỆT GIỮA HIỆP ƯỚC SƠ BỘ 06/03/1946 VÀ TẠM ƯỚC 14/09/1946

INK.422Hiệp Ước Sơ Bộ(HƯSB) 6/3/1946 được ký giữa Hồ Chí Minh (HCM) và đại diện Pháp Jean Sainteny tại Hà Nội. Trong lúc này chính phủ lâm thời ở nước Pháp do Đảng Xã Hội và Đảng Cộng Sản lãnh đạo. HCM và Pháp đã có những thỏa thuận qua lại từ tháng 2/1946, trên nguyên tắc Hồ đã chấp nhận tất cả những gì nước Pháp mẹ đề ra, và kết quả của sự thỏa thuận này là HƯSB.

Căn bản trong HƯSB:

  1. Nước Pháp công nhận nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là một nước tự do, có chính phủ, nghị viện, quân đội, tài chánh nằm trong liên bang Đông Dương và khối Liên Hiệp Pháp.
  2. Nước Pháp cam đoan sẽ thừa nhận kết quả của cuộc trưng cầu ý dân về việc thống nhất ba kỳ.
  3. Chính phủ của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa chấp thuận để 15 ngàn quân Pháp vào miền Bắc Việt Nam thay quân Tưởng và sẽ rút hết sau 5 năm, quân đội của chính phủ HCM gồm 10 ngàn quân chịu sự chỉ huy của Pháp.
  4. Hai bên đình chỉ ngay xung đột và đàm phán tiếp.

Dựa vào tài liệu của nhà báo Jean Lacouture, người đã có mặt tại Hà Nội vào giai đoạn sau khi HCM ký HƯSB.

The very next day, general  Leclerc – who was the acting high commissioner- sent a cable to his government, stating that a settlement with the Vietminh was a matter of urgency and that to obtain it they must be prepared to void the word “independence” without further delay. (Ho Chi Minh  A Political Biography, Jean Lacouture, page 128) – Ngay ngày hôm sau (14/2/1946), tướng Leclerc- người được ủy quyền hoạt động- đã gửi… Continue reading

XẢO THUẬT VỀ HÌNH ẢNH HỒ CHÍ MINH NGÀY 2/9/1945

 

INK.398Nói về tài trí trá thì không ai hơn những người công sản Việt Nam mà dẫn đầu là Hồ Chí Minh. Trước ngày lên khán đài đọc diễn văn, 2/9/1945, Hồ điều khiển đàn em làm những màn xuống đường “hoan hô phái bộ đồng minh OSS”, nịnh hót Mỹ rất ngoạn mục, nhưng rồi cũng thất bại. Còn trong tâm trạng thấp thỏm lo sợ Mỹ không ra mặt công nhận “chính phủ” vừa ăn cướp và tập đoàn vẫn cố đấm ăn xôi. Tâm trạng thể hiện qua hình thức. Chúng ta hãy thử nhận xét một vài hành động của Hồ trước ngày xuất hiện tại Ba Đình và hình ảnh trên phim được cộng sản quay trong ngày này.

Cái dỏm đáng kể là Hồ Chí Minh đã dùng những câu trong “Tuyên Ngôn Độc Lập” của Hoa Kỳ, 1776, và “Tuyên Ngôn về Nhân Quyền và Dân Quyền” của Pháp, 1791. Có người nhận xét rằng Hồ Chí Minh đã không đủ khả năng viết riêng cho mình một bài diễn văn được gọi là “tuyên ngôn độc lập” đọc trước đám đông, nhất là ngày ông tuyên bố khai mở một giai đoạn mới cho dân tộc Việt Nam. Ngày  29/8/1945, Hồ Chí Minh mời Archimedes Patti, đại diện cơ quan tình báo Hoa Kỳ OSS, đến văn phòng để nhờ xem lại bản văn ông sắp đọc tại quãng trường Ba Đình. Patti viết trong “Why Vietnam” (trang 223):

I stopped him and turned to Ho in amazement and… Continue reading

Trần Văn Giàu – “Nhà Giáo Nhân Dân” ???

Trần Nguơn Phiêu

INK.395Trần Văn Giàu, một nhân vật chủ chốt trong thời Việt Minh giành được chánh quyền ở Nam Bộ vào ngày 25 tháng 8 năm 1945, đã tự phong chức Chủ tịch đầu tiên của Ủy ban Hành chánh Lâm thời Nam Bộ. Mười ngày sau đó, Hồ Chí Minh đã phái Hoàng Quốc Việt và Cao Hồng Lãnh từ Bắc vào, buộc Trần Văn Giàu phải nới rộng thành phần Lâm Ủy Hành Chánh thành Ủy Ban Nhân dân Nam Bộ và phải nhường chức chủ tịch cho Phạm Văn Bạch, một nhân vật không đảng phái vào thời bấy giờ. Sau đó không lâu, Trần Văn Giàu đã bị Hồ Chí Minh triệu hồi về Bắc để phụ trách ngành giáo dục, không cho phép trở về Nam công tác cho mãi đến năm 1975. Vào năm 1992, Trần Văn Giàu đã được chánh quyền Cộng sản Việt Nam phong tặng danh hiệu “Nhà Giáo Nhân dân”.
Người Việt Nam đã từng hấp thụ văn hóa Khổng Mạnh từ ngàn xưa nên lúc nào cũng kính trọng các bậc Thầy của mình. Đạo Khổng há chẳng đã dạy phải xem Thầy trên cả Cha hay sao (Quân, Sư, Phụ). Các tiền nhân mà lịch sử Việt Nam ghi công, được nhìn nhận vào bậc Thầy như Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Đồ Chiểu v. v…là những người được dân chúng mến phục chẳng những vì tài ba lỗi lạc mà cũng vì đức độ sáng chói. Chánh quyền Việt Nam Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa đã muốn dân chúng cùng tôn vinh với họ, coi Trần Văn Giàu là “ nhà giáo nhân dân” của lịch sử hiện đại. Với những kinh nghiệm đau thương mà đảng Cộng sản Việt Nam đã bắt toàn… Continue reading

TRẦN HƯNG ĐẠO (Sách Báo Tham Khảo)

ink.391

 

An Nam chí lược − Cổ Ái, Đông Sơn, Lê, Tắc − Lạc Thiện đường, Thượng Hải, Giáp Thân (Minh Trị thứ mười bảy).
Đại Nam quốc sử diễn ca − Lê Ngô Cát và Phạm Đinh Sối. Sách nôm trường Bác Cổ.
Đại Việt sử ký − Bản đời Cảnh Thịnh (1793-1800).
Đại Việt sử ký toàn thư − Bản đời Lê.
Hoàng Việt thi tuyển − Bùi Huy Bích, sách in trường Bác Cổ.
Hoàng Việt văn tuyển − Bùi Tồn Am, sách in trường Bác Cổ.
Khâm định Việt sử thông giám cương mục − Quốc sử quán đời Nguyễn.
L’ Empire mongol et Tamerlan − Michael Prawdin, Payot, Paris, 1937.
Les Mongols et la Papauté − Paul Pelliot, sách in trường Bác Cổ.
Lịch triều hiến chương loại chí, Binh chế chí, Quan chức chí, Quốc dụng chí, Nhân vật chí − Phan Huy Chú, sách viết trường Bác Cổ.
Nam sử tập biên − Sách viết trường Bác Cổ.
Nguyên sử, quyển 209, sách in trường Bác Cổ.
Nguyên sử tân biên, quyển 95, sách in trường Bác Cổ.
Ngự chế Việt sử tổng vịnh − Tự Đức đời Nguyễn.
Quốc sử tiểu học lược biên − Phạm Huy Hổ, Đinh Mùi (1907), sách viết trường Bác Cổ.
Trần đại vương chầu văn Sách nôm trường Bác Cổ.
Trần gia điển tích thống biên − Sách viết trường Bác Cổ.
Trần Hưng Đạo vương cựu tích − Sách viết trường Bác Cổ.
Trần triều thế phả hành trạng − Sách viết trường Bác Cổ.scan0021.jpgscan0024.jpgscan0025.jpg
BẢNG KÊ NHỮNG PHẦN TỬ ĐÃ HY SINH TRONG MẤY CUỘC KHÁNG NGUYÊN
NGÀY THÁNG CÔNG NGUYÊN CHỨC SỰ HOẶC TƯỚC PHONG TÊN, HỌ NƠI BỊ BẮT HOẶC BỊ GIẾT
Đinh Tỵ 1257 Phú lương hầu (?) Gần cầu Phù… Continue reading

TRẦN HƯNG ĐẠO (Chương 10)

INK.390

 

 

    …..

ể thay lời kết luận cả sách, chương này xin nhắc lại đôi chút kinh nghiệm mà đức Trần Hưng Đạo đã để lại trong mấy cuộc kháng chiến Mông Cổ.

Mông Cổ sang lấn cướp, có chuyến đem tới năm mươi vạn quân.

Về bên ta, chuyến nào phải động viên nhiều nhất chỉ đến hơn hai mươi vạn quân là cùng. Nhưng theo lối tổ chức binh bị đương thời, thì “khi hữu sự, hết thảy nhân dân đều là binh lính” (Cương mục, quyển 6, tờ 26b). Chép về mấy chuyến kháng Nguyên, tác giả An Nam chí lược thường dùng những câu như “cả nước đều đón đánh”288 hoặc “suốt nước đều chống giặc”289. Mà Lịch triều hiến chương cũng chép: “Trăm họ đều là quân lính, nên mới phá được giặc to và làm mạnh được thế nước”. (Binh chế chí).

Mông Cổ, trong năm Đinh Hợi (1287), đánh kinh thành Thăng Long, đã dùng đến súng, ngoài những cung nỏ là ngón trội nhất của quân địch.

Còn bên ta, chỉ có thứ tên tẩm thuốc độc là một chiến cụ lợi hại nhất. Thế là, về võ khí, ta cũng kém sút quân địch. Nhưng ta nắm được mấy ưu điểm này:

“Mông Cổ lợi ở trường trận, ta lợi ở đoản binh. Lấy đoản mà chế trường”. (Lời Trần Hưng Đạo).

“Quân giặc hàng năm đi xa muôn dặm, lịu địu những đồ tri trọng, thế tất mệt mỏi. Ta lấy sức thong thả mà chờ đợi đằng nhọc nhằn, trước hãy đánh cho chúng bạt hơi sức đi thì thế nào cũng phá được”. (Lời Trần Nhân Tôn).

Chính đức Trần Hưng Đạo đã nói: “Năm trước, quân Nguyên vào lấn cướp, dân… Continue reading

TRẦN HƯNG ĐẠO (Chương 9)

INK.389

 

Ở mấy chương trước, ta đã thấy rõ võ công của đức Trần Hưng Đạo rồi; đến chương này, xin giới thiệu văn nghiệp của vị đại anh hùng dân tộc ấy. Có điều nên nhớ: văn nghiệp của ngài không phải là lối khoa cử từ chương, miệt mài trong những gọt rũa tiểu xảo, mà là thứ văn dọc đất, ngang trời, kinh bang, tế thế.
Hiện giờ, ngoài những binh thư của ngài đã thất truyền, ta chỉ còn có thể biết văn ngài qua bài hịch dụ các tướng sĩ bằng Hán văn, viết vào hồi kháng chiến Mông Cổ. Vậy nay xin so sánh nguyên văn đã in trong các sách Toàn thư, Cương mục và Hoàng Việt văn tuyển mà dịch nghĩa và chú giải như dưới:

漢文
余嘗聞之紀 信以身代死而脫高帝由于以背受戈而蔽昭王豫讓吞炭而復主讐申蒯斷臂而赴國難敬德一小生也身翼太宗而得免世充之圍杲卿一遠臣也口罵祿山而不從逆賊之計自古忠 臣義士以身殉國何代無之設使數子區區為兒女子之態徒死牖下烏能名垂竹帛與天地相為不朽哉汝等世為將種不曉文義其聞其說疑信相半古先之事姑置勿論今余以宋韃 之事言之王公堅何人也其裨將阮文立又何人哉以釣魚瑣瑣斗大之城當蒙哥堂堂百萬之鋒使宋之生靈至今受賜骨䚟兀郎何人也其裨將斤修思又何人也冒瘴厲於萬里之途 獗南詔於數旬之頃使韃之君長至今留名況余與汝等生於擾攘之秋長於艱難之際竊見偽使往來道途旁午掉鴞烏之寸舌而凌辱朝廷委犬羊之尺軀而倨傲宰輔托忽必烈之令 而索玉帛以事無已之誅求假雲南王之號而需金銀以竭有限之帑庫譬猶以肉投餒虎寧能免遺後患也哉余常臨飱忘食中夜撫枕涕泣交頤心腹如搗常以食肉寢皮茹肝飲血為 恨也雖余之百身高於草野余之千尸裹於馬革亦願為之汝等久居門下掌握兵權無衣者則衣之以衣無食者則食之以食官卑者則遷其爵祿薄者則給其俸水行給舟陸行給馬委 之以兵則生死同其所為進之在寢則笑語同其所樂其是公堅之為裨兀郎之為副貳亦未下爾汝等坐視主辱曾不為憂身嘗國恥曾不為愧為邦國之將侍立夷宿而無忿心聽太常 之樂宴饗偽使而無怒色或鬥雞以為樂或賭博以為娛或事田園以養其家或戀妻子以私於己修生產之業而忘軍國之務肄畋獵之遊而怠攻守之習或甘美酒或嗜淫聲脱有蒙韃 之寇來雄雞之距不足以穿虜甲賭博之術不足以施軍謀田園之富不足以贖千金之軀妻孥之累不足以充軍國之用生產之多不足以購虜首獵犬之力不足以驅賊眾美酒不足以 鴪虜軍淫聲不足以聾虜耳當此之時我家臣主就縛甚可痛哉不唯余之采邑被削而汝等之俸祿亦為他人之所有不唯余之家小被驅而汝等之妻孥亦為他人之所虜不惟余之祖 宗社稷為他人之所踐侵而汝等之父母墳墓亦為他人之所發掘不惟余之今生受辱雖百世之下臭名難洗惡謚長存而汝等之家清亦不免名為敗將矣當此之時汝等雖欲肆其娛 樂得乎今余明告汝等當以措火積薪為危當以懲羹吹虀為戒訓練士卒習爾弓矢使人人逄蒙家家后羿購必烈之頭於闕下朽雲南之肉於杲街不唯余之采邑永為青氈而汝等之 俸祿亦終身之受賜不唯余之家小安床褥而汝等之妻孥亦百年之佳老不唯余之宗廟萬世享祀而汝等之祖父亦春秋之血食不唯余之今生得志而汝等百世之下芳名不朽不唯 余之美謚永垂而汝等之姓名亦遺芳於青史矣當此之時汝等雖欲不為娛樂得乎今余歷選諸家兵法為一書名曰兵書要略汝等或能專習是書受余教誨是夙世之臣主也或暴棄 是書違余教誨是夙世之仇讎也何則蒙韃乃不共戴天之讎汝等記恬然不以雪恥為念不以除凶為心而又不教士卒是倒戈迎降空拳受敵使平虜之後萬世遺羞上有何面目立於 天地覆載之間耶故欲汝等明知余心因筆以檄云

Ta từng nghe nói: Kỷ Tín đem thân chết thay, cứu thoát Hán Cao Tổ249.
Do Vu lấy lưng đỡ giáo, che đỡ Sở Chiêu Vương250.
Dự Nhượng nuốt than, báo thù cho chủ251.
Thân Khoái chặt tay, cứu nạn cho nước.
Kính Đức là một tiểu sinh, đem thân cứu Đường Thái Tôn cho thoát vòng vây Thế Sung252.
Kiểu Khanh là một tôi xa, lớn tiếng mắng An Lộc Sơn, không theo mưu chước nghịch tặc253.
Từ xưa những kẻ trung thần nghĩa sĩ vì nước quên mình, đời nào chẳng có? Giá thử mấy gã ấy cứ du dú như tuồng nhi nữ, chết uổng ở xó nhà, thì danh họ đâu có để trên sử xanh, cùng trời đất trường thọ mà bất hủ.
Các ngươi nối đời, làm con nòi nhà tướng, không… Continue reading

TRẦN HƯNG ĐẠO (Chương 7)

INK.387

 …..

ông Cổ mượn đường đi đánh Chiêm Thành

Sau cuộc chiến tranh tự vệ năm Đinh Tỵ (1257), ta tuy tạm đuổi được giặc Mông Cổ ra khỏi bờ cõi, nhưng vẫn nơm nớp cái lo về sau, nên vấn đề phòng thủ biên cương và thao diễn quân đội đã được các nhà cầm quyền đương thời hết sức chú trọng.

Tháng ba năm Nhâm Tuất (1262), vua Trần Thái Tôn ra lệnh các quân phải làm chiến khí (nay gọi chiến cụ), đóng chiến thuyền; cho thủy, lục quân tập trận ở Cửu Phù Sa sông Bạch Hạc (Toàn thư, quyển 5, tờ 27b; Cương mục, quyển 7, tờ 4b).

Từ tháng tám, năm Nhâm Ngọ (1282), niên hiệu Thiệu Bảo thứ tư đời vua Trần Nhân Tôn, ta đã được tin do Biên thần đóng giữ Lạng Sơn là Lương Uất sai ruổi ngựa trạm về báo: Mông Cổ sai bọn Hữu thừa Toa Đô, Tả thừa Lưu Thâm, Tham chính A Lý lót miệng bằng việc đi đánh Chiêm Thành, đòi ta cho mượn đường và buộc ta góp quân lính, cung lương thảo (tháng mười, Nhâm Ngọ, 1282).

Hội nghị Bình Than159

Tháng mười, năm Nhâm Ngọ (1282), vua Trần Nhân Tôn đi bến Bình Than, họp các vương hầu và bách quan, bàn chước đánh, giữ.

Cuộc hội nghị Bình Than này có mấy việc quan trọng:

  1. Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư là tay tướng tài, trước đó, được khen thưởng trong cuộc kháng Nguyên năm Đinh Tỵ (1257), nhưng sau vì có tội, bị bóc tước phong, bấy giờ đang làm nghề bán than ở Chí Linh (Hải Dương). Nhân cuộc hội nghị này Khánh Dư được vời đến và bàn luận, rồi được phong làm Phó đô… Continue reading

TRẦN HƯNG ĐẠO (Chương 6)

INK.385

    

 …..

huẩn bị

Tháng chín, năm Đinh Tỵ (1257), bên ta được tin giặc Mông Cổ, tức giặc Nguyên, sửa soạn kéo sang lấn cướp:

Thái sư Mông Cổ là Thống Súy từ đường Vân Nam qua biên cảnh ta, thanh ngôn là muốn sang Ung143 và Quế144 hội đại binh ở Ngạc145để đánh nhà Tống.

Vua Trần Thái Tôn (1225-1258) cử Trần Quốc Tuấn làm Tiết chế, đốc suất các tướng ở tả hữu, đem quân thủy, quân bộ chống giữ biên thùy; tháng chín, năm Đinh Tỵ, 1257 (Toàn thư, quyển 5, tờ 2a); chính nhà vua tự làm tướng, đốc chiến, xông pha tên đạn.

Tháng một, năm ấy (Đinh Tỵ, 1257), Thái sư Mông Cổ Ô Lan Cáp Đạt, (tức Ngột Lương Hợp Giải hoặc Ngột Lương Cáp Thai), sau khi kinh lược xong việc Vân Nam, đóng quân ở phía bắc nước ta để uy hiếp. Hắn sai hai sứ giả đi dụ vua Trần. Khi không thấy sứ giả trở lại, hắn bèn phái bọn Tề Tề và Khắc Đồ mỗi tướng đem một nghìn quân, chia đường vào cướp, đóng trên sông Thao146. Hắn lại sai con là A Châu đi tiếp viện và dò xem tình hình hư thực.

Trận đầu bất lợi

Tháng chạp, năm Đinh Tỵ (1257), đại quân của Thống Súy Mông Cổ đến Tích Nỗ Nguyên147.

Vua Trần thúc quân cưỡi voi nghênh địch.

Bấy giờ con của Thống Súy là A Chuật, 18 tuổi, đem những tay thiện xạ ra bắn vào voi: Voi sợ, lồng bồn trở lại, chà đạp lẫn nhau. Quân ta cả vỡ.

Ngày hôm sau, vua Trần sai phá cái cầu Phù Lỗ, dàn trận ở bên này bờ… Continue reading

TRẦN HƯNG ĐẠO (Chương 5)

INK.384

    

 …..

ắt đầu từ năm Đinh Tỵ (1257), Mông Cổ rầm rộ gây hấn với ta để hòng mở rộng phạm vi đế quốc về mặt Nam Á. Nhưng sau trận đọ sức với quân, dân đời Trần120trong năm Đinh Tỵ (1257), Mông Cổ vấp phải sức đề kháng rất mạnh, bị thất bại về quân sự, bèn xoay sang mặt chính trị và ngoại giao.

Chương này dựa tài liệu trong Nguyên sử (quyển 9), An Nam chí lược (quyển 4) và Toàn thư (quyển 5), xin thuật qua những việc Mông Cổ gây hấn và bên ta đối phó…

Mùa hạ năm Mậu Ngọ (1258), Mông Cổ sai Nột Loát Đan sang dụ vua Trần: “Xưa, ta sai sứ sang thông hiếu, các ngươi (!) một niềm mê man, không tỉnh ngộ, nên ta mới phải có việc xuất quân năm ngoái121. Thấy Quốc chủ ngươi (!) phải chạy dài nơi đồng nội, ta lại sai hai sứ giả122 đi chiêu an cho về nước; ngươi (!) lại trói sứ giả của ta rồi thì cho về.

Nay ta đặc biệt sai người đến mở lòng dụ bảo… Nếu các ngươi (!) thề xin một lòng nội phụ thì Quốc chủ phải thân hành sang đây. Ví bằng vẫn còn không chừa (!) thì cứ bảo rõ cho ta biết.”

Vua Trần Thánh Tôn trả lời: “Nếu tiểu quốc thành tâm thờ đại quốc, thì đại quốc sẽ đối đãi thế nào?”.

Tháng chín, năm Nhâm Tuất (1262), Mông Cổ yêu sách:

Kể từ Quý Hợi (1263), cứ ba năm một lần cống.

Về người, phải kén: nho sĩ, thầy thuốc, hạng người thông âm dương, bói toán và các thợ, mỗi hạng thợ ba người.

Về đồ… Continue reading

TRẦN HƯNG ĐẠO (Chương 4)

INK.383

 …..

ông Cổ là một giống hùng dũng hung tợn, đã từng chà đạp nhiều nước châu Âu ở hồi thế kỷ mười ba và làm chủ nhân ông tại Trung Quốc hàng tám mươi chín năm đằng đẵng (1279-1368).

Thế mà hồi đầu Trần, từ Đinh Tỵ (1257) đến Mậu Tý (1288), một khoảng thời gian ba mươi mốt năm, ta phải đương đầu với quân cường địch ấy trong ba cuộc chiến tranh tự vệ, kết cục ta quét sạch được giặc ngoại xâm, giữ vững được độc lập thì, không đợi phải nói, nay cũng có thể tưởng biết được cái năng lực của dân tộc Việt Nam ở đương thời là thế nào.

Bây giờ muốn rõ công cuộc kháng chiến Mông Cổ mà quân, dân đời Trần đã phải hy sinh biết bao xương máu để đức Trần Hưng Đạo viết thành hai chữ “thắng lợi” trên trang sử oanh liệt ấy, ta nay cần phải xét đến lai lịch và lực lượng của đối phương.

Từ lúc quật khởi đến hồi toàn thịnh

Ở phía bắc nước Trung Hoa, từ đời Đường (618-904)106, có một giống gọi là Mông Cổ, ở thành từng bộ lạc, rải rác suốt phía bắc Xa Thần Hãn thuộc Mông Cổ ngày nay và một dải Tây Bắc tỉnh Hắc Long Giang bây giờ. Họ sống bằng nghề chài lưới, săn bắn và du mục. Đến đời Kim, tù trưởng Mông Cổ là Hợp Bất Lặc trỗi dậy, tự xưng là Tổ Nguyên hoàng đế, đặt quốc hiệu là Đại Mông Cổ.

Năm 1206 (tức năm Trị Bình Long Ứng thứ hai đời Lý Cao Tôn bên ta), Thiết Mộc Chân (Témoudjine) mở rộng đất đai, lên ngôi hoàng đế, tự hiệu là Thành Cát Tư… Continue reading

TRẦN HƯNG ĐẠO (Chương 3)

INK.382

 …..

uốn rõ trạng thái xã hội và trình độ sinh hoạt của dân chúng hồi đầu Trần trước khi có mấy cuộc ngoại xâm dồn dập, nay cần phải xét qua các phương diện chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa ở đương thời.

Chính trị

Lên thay triều Lý (1010-1225), gánh việc giữ nước chăn dân từ năm Ất Dậu (1225), nhà Trần về mọi phương diện, đều có tổ chức.

Cũng đóng đô ở Thăng Long, nhà Trần chia trong nước làm 12 lộ49. Lại có phủ, châu và trấn50 đặt thuộc vào lộ. Nơi biên viễn, gọi là trại51. Đơn vị dưới cùng là xã và sách52.

Khi thái tử đã có năng lực chăm lo việc nước thì vua cha nhường ngôi cho con, xưng là “Thượng hoàng”, để con tập sự cho quen mọi việc quân quốc, nhưng phàm vấn đề gì quan trọng vẫn do Thượng hoàng giải quyết. Thượng hoàng gọi vua con là “Quan gia”. Nhân dân gọi vua là “Quốc gia”.

Cũng như các nước quân chủ ở đương thời, chính thể đời Trần là chính thể phong kiến.

Đầu thang giai cấp trong xã hội là Thiên tử, dưới là thứ dân, cùng tột là nô, tì và hoành53.

Tước phong thì có đại vương, vương, quốc công, công và hầu…

Thái ấp thì có như An Phụ, An Dưỡng, An Sinh54 và An Bang55 là ấp phong của Trần Liễu…

Nhà Trần lấy nhân hậu, thân dân làm cơ bản chính trị.

Năm Tân Hợi (1251), niên hiệu Nguyên Phong thứ nhất, Trần Thái Tôn (1225-1258) chính tay viết bài minh ban cho các hoàng tử, dạy những điều trung (trung thực), hiếu (hiếu… Continue reading

TRẦN HƯNG ĐẠO (Chương 2)

INK.381

    

 
…..
uốn rõ võ công của Trần Hưng Đạo, tất trước phải xét đến lực lượng binh bị, tổ chức quân sự và tinh thần quân nhân đương thời.
 

Theo các sử cũ, sách xưa, thì binh chế đầu đời Trần đại khái như thế này:

Toàn thư, quyển 5; Cương mục, quyển 6 có chép:

Tháng ba, năm Kỷ Hợi22 (1245), tuyển trai tráng làm binh lính, chia ra ba bậc thượng, trung và hạ.

Tháng hai, năm Tân Sửu23 (1247), tuyển những người có sức mạnh, am hiểu võ nghệ, sung làm Thượng đô túc vệ (Toàn thư, quyển 5, tờ 12a);

Cương mục, quyển 6, tờ 20b-21a chép:

Tháng hai, năm Bính Ngọ (1246), biên định quân ngũ:

Lựa những người khỏe mạnh sung vào quân Tứ thiên, quân Tứ thánh, quân Tứ thần24.

Các lộ Thiên Trường25 và Long Hưng đặt làm quân Nội Thiên thuộc, quân Thiên cương, quân Chương thánh, quân Củng thần.

Các lộ Hồng (nay là Hải Dương), Khoái (nay thuộc Hưng Yên) đặt làm quân Tả Thánh dực và Hữu Thánh dực.

Các lộ Trường Yên (nay thuộc Ninh Bình), Kiến Xương (nay thuộc Thái Bình) đặt làm quân Thánh dực, quân Thần sách.

Còn thì sung làm Cấm vệ; ba bậc Cấm quân sung làm đoàn đội trạo nhi (tay chèo thuyền)26.

Tháng hai, năm Tân Dậu (1261), tuyển dân đinh các lộ; phàm người khỏe thì cho làm binh lính; còn thì sung làm sắc dịch ở các sảnh, viện, cục và làm đội tuyển phong ở các lộ, phủ, huyện (Cương mục, quyển 7, tờ 1b).

Tháng tám, năm Đinh Mão (1267), chế định quân ngũ.

Quân gồm 30 đô, mỗi đô có 80… Continue reading

TRẦN HƯNG ĐẠO (Chương 1)

INK.380

 

…..
 
 
 …..
ưng Đạo đại vương, họ Trần, húy Quốc Tuấn, là con An Sinh vương Trần Liễu và bà Nguyệt, là em Vũ Thành vương Trần Doãn và là anh Thiên Cầm hoàng hậu, vợ vua Trần Thánh Tôn (1258-1278).
 

Ngài gọi Trần Thừa (sau được tôn làm Thái tổ) bằng ông nội, Trần Cảnh (vua Trần Thái Tôn) bằng chú ruột.

Đối với hoàng tộc nhà Trần, ngài là bậc thân vương, nên hồi tháng mười, năm Quý Mão (1283), có giặc Mông Cổ xâm lược, ngài được vua Trần Nhân Tôn (1279-1293)2 tiến phong làm Quốc công.

Theo chế độ nhà Trần, hễ thân vương làm tướng văn thì gọi là “công”, nay ngài do thân vương làm tướng võ, nên gọi là “quốc công”. Còn người mình và cả người Trung Hoa gọi ngài là “Hưng Đạo vương” hoặc “Hưng Đạo đại vương”, là tôn xưng theo tước phong của ngài.

Như vậy, ngài là người họ tông thất rất thân nhà Trần và là nhân vật đứng trong tầng lớp quý tộc.

Các sử ta xưa không chép ngài sinh vào năm nào đến khi ngài mất cũng không nói ngài thọ bao nhiêu tuổi, nên nay không thể biết được ngày sinh của ngài3.Mà chỉ tạm nêu một giả thuyết:

Sau ngày rằm tháng hai, năm Tân Hợi (1251), Quốc Tuấn tự do luyến ái rồi kết hôn với Thiên Thành công chúa (Toàn thư, quyển 5, tờ 17a-b).

Qua tháng tư năm ấy (Tân Hợi, 1251), thân phụ ngài là An Sinh vương Trần Liễu mất, mới 41 tuổi (Sử dẫn trên, tờ 18b).

Trần Liễu mất năm 41 tuổi. Nếu 18 tuổi đã sinh con thì bấy giờ (Tân Hợi, 1251) Quốc Tuấn 23… Continue reading

TRẦN HƯNG ĐẠO (Lời Đầu)

ink.379

 

 

 

ưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn chẳng những là một vĩ nhân Việt Nam, mà lại là một danh nhân trên mảnh đại lục Đông Nam Á từ thế kỷ XIII đến nay.

Đối với lịch sử Việt Nam, ngài là một đại anh hùng dân tộc, có công quét sạch giặc Nguyên1 xâm lược, giữ vững tự do, độc lập cho nhân dân, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ cho tổ quốc; trên nối được dòng máu truyền thống của Trưng Vương, Lý Bôn, Triệu Quang Phục, Phùng Hưng, Ngô Quyền, Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt…, dưới treo được tấm gương tranh đấu cho Đặng Dung, Nguyễn Súy, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung…

Ngài là kết tinh của cả Việt Nam, một dân tộc có sức đấu tranh dai dẻo, bền bỉ, không chịu khuất phục dưới bất cứ một ách cường quyền đô hộ nào hoặc bó tay cúi đầu trước bất cứ một cuộc xâm lược công khai hay trá hình nào.

Công nghiệp ngài đã đi sâu vào dân chúng. Tên tuổi ngài đã sống mãi với non sông. Vậy sao còn cần đến cuốn tiểu sử này? Là vì võ công, văn nghiệp của ngài, trước kia, người mình chỉ chép toàn bằng chữ Hán, mà lại tản mát chưa có hệ thống; gần nay, tuy có một vài cuốn sách, tờ báo quốc ngữ nói đến, nhưng hãy còn sơ lược chưa đủ hoặc truyền văn thất chân.

Vả, lối dân chúng “thần thánh hóa” các bậc vĩ nhân lại làm cho một số người hiểu đức Trần Hưng Đạo theo một phương diện khác, một ý nghĩa khác.

Vậy xin cố gắng tra cứu sử sách Nam Bắc, sưu tầm tài liệu xưa nay, làm thành cuốn… Continue reading

TRẦN HƯNG ĐẠO (Giới Thiệu)

INK.378

 

 

 

n đc thân mến!

Lịch sử văn hóa của một dân tộc không phải của riêng cá nhân nào, chính vì vậy, việc bảo tồn, gìn giữ và phát triển lịch sử văn hóa cũng không phải riêng một người nào có thể gánh vác được, nó thuộc về nhận thức chung của toàn xã hội và vai trò của từng nhân tố trong mỗi chặng đường lịch sử. Lịch sử là một khoa học. Lịch sử không phải là việc thống kê sự kiện một cách khô khan rời rạc. Bởi mỗi sự kiện trong tiến trình đó đều có mối liên kết chặt chẽ với nhau bằng sợi dây vô hình xuyên suốt không gian và thời gian tạo nên lịch sử của một dân tộc.

Dân tộc Việt Nam trải hơn một nghìn năm Bắc thuộc, gần trăm năm dưới ách cai trị của thực dân, đế quốc, nhưng con cháu bà Trưng, bà Triệu, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung… vẫn kiên trì bền chí, tin tưởng ở quá khứ hào hùng, không ngừng tranh đấu hướng tới tương lai rộng mở vì độc lập tự do của đất nước.

Một dân tộc, một quốc gia muốn trường tồn và phát triển, ngoài việc đẩy mạnh phát triển cơ sở hạ tầng, khoa học kỹ thuật, điều quan trọng hơn nữa là phải có một nền tảng giáo dục vững chắc. Trong đó, giáo dục về lịch sử và lòng tự hào dân tộc là cần thiết để ghi khắc trong tâm trí các thế hệ, đặc biệt là tầng lớp thanh niên trẻ, ý thức về nguồn gốc dân tộc, truyền thống văn hóa và nội lực quốc gia, đồng thời… Continue reading

VUA HÀM NGHI và Sự Trở Về của Một HẬU DUỆ

 

VUA HÀM NGHI và Sự Trở Về của Một HẬU DUỆ

 

 INK.168

  Vua Hàm Nghi trong những ngày lưu đày
INK.169 
Amandide Dabat , cháu  5 đòi làm luận án lịch sử nghệ thuật về tiền nhân

 

Vua Hàm Nghi tên húy là Nguyễn Phúc Ưng Lịch (sinh năm 1872). Ông là con thứ 5 của Kiên Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Cai và bà Phan Thị Thanh Nhàn. Ông là em ruột của vua Kiến Phúc và vua Đồng Khánh. Gia đình Kiên Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Cai có lẽ là một trong những gia đình vương gia đặc biệt nhất trong lịch sử khi có tới 3 người con đã từng lên ngôi vua.

Chỉ có điều lên ngôi giữa thời loạn lạc, nên vì lý do này, lý do khác mà thời gian tại vị của cả ba vị vua này đều tương đối ngắn ngủi. Hiện nay, tại Kiên Thái Vương phủ nằm trên đường Phan Đình Phùng (Thành phố Huế), những hậu duệ trong gia đình Kiên Thái Vương vẫn thờ Vua Hàm Nghi và một số vị vua khác của triều Nguyễn.

Nguyễn Phúc Ưng Lịch từ nhỏ đã cùng mẹ ruột sống ở ngoài phủ. Tuổi thơ của ông trải qua cảnh dân dã, bần hàn, chứ không được nuôi dạy trong xa hoa, phú quý.

Trước khi Vua… Continue reading

THỐNG NHẤT & ĐẦN ĐỘN, MAN RỢ

Hoàng Thanh Trúc (Danlambao) – (Viết cho đồng bào tôi, những bạn trẻ sinh sau 1975) 

Khi sự thật là chân lý của mọi chân lý thì dù là người cộng sản nhưng cách nói liên quan đến chủ nghĩa CS của họ khiến các quan tuyên giáo và lãnh đạo của đảng CSVN cũng phải cúi mặt không muốn nghe nhắc lại, đó là 2 người phụ nữ nổi tiếng từng là đảng viên tuyên thệ dưới bóng cờ búa liềm của đảng cộng sản VN: Dương Quỳnh Hoa, Dương Thu Hương.
 
– Bác sĩ chính qui tốt nghiệp tại Pháp, Dương Quỳnh Hoa nguyên thứ trưởng Bộ Y tế CHXHCNVN sau khi từ bỏ đảng CS nhận xét về các “đồng chí” cũ bà đã thốt lên rằng: “Đó là những kẻ ngu si đần độn, bởi vì họ là cộng sản” và khi bức tường Berlin do CS Đông Đức xây dựng ngăn chặn ảnh hưởng của phương Tây bị sụp đổ, bà nói: “Đây là ngày tàn của một ảo tưởng vĩ đại” (1)
 
– Nhà văn CS Dương Thu Hương từng rơi nước mắt giữa đường phố Sài Gòn ngày 30/4/1975, bà nói: “Vào Nam rồi tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt, bịt tai con người. Trong khi đó ở miền Nam người ta có thể tự do nghe bất cứ đài phát thanh nào, Pháp, Anh, Mỹ… nếu người ta muốn. Đó mới là chế độ của nền văn minh. Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua một chế độ man rợ. Đó là sự hàm hồ và lầm lẫn của lịch sử, là bài học đắt giá, nhầm lẫn lớn nhất… Continue reading

Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔ và Phật Giáo Thời Ðại

Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔ và Phật Giáo Thời Ðại
Tác giả Lê Hiếu Liêm

INK.015

Sự liên hệ chặt chẽ, bất khả phân ly giữa Phật Giáo Việt Nam cận đại và Phật Giáo Hòa Hảo, cũng như giữa đức Phật và tăng, ni, Phật tử Việt Nam với cư sĩ và đồng thời là giáo chủ Huỳnh Phú Sổ có thể được chứng minh và cô động trong một câu nói của chính Huỳnh Phú Sổ: “đối với toàn thể tín đồ Phật Giáo, tôi vẫn không quên rằng tôi là một đệ tử trung thành của đức Phật Thích Ca”. Và đặc tính của nền Phật Giáo thời đại, nhập thế, dấn thân do Huỳnh Phú Sổ sáng lập cũng được tóm gọn đầy đủ, xúc tích trong một lời tuyên bố lừng danh của Huỳnh Phú Sổ:

“Tôi tin chắc rằng giáo lý giải thoát chúng sanh (của đức Phật Thích Ca) chẳng những được truyền bá ở Thiền Lâm, mà còn phải được thực hiện trên trường chánh trị”. Ông giải thích thêm:

“Theo như sự nhận xét của tôi về giáo lý nhà Phật do đức Thích Ca Mâu Ni Phật đã khai sáng, lấy chủ nghĩa từ bi bác đại đồng đối với tất cả chúng sanh làm nồng cốt, thì tôi nhận Ngài là một nhà cách mạng triệt để về tư tưởng, vì những câu “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh” và “Phật cùng đồng nhất thể bình đẳng với chúng sanh“. đã có những sự bình đẳng về thể tánh như thế mà chúng sanh còn không bằng được Phật là do nơi trình độ giác ngộ của họ không đồng đều, chớ không phải họ không thể tiến hóa ngang hàng với Chư Phật… Continue reading

CHUYỆN TÌNH TRẮC TRỞ CỦA DANH Y HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG

Tĩnh Nhi

Ít ai ngờ rằng vị “Thần Y” này cũng đã trải qua một chuyện tình trắc trở, vì nặng lòng với đất nước và người cùng khổ mà ông trót lãng quên người vợ mà mình đã cầu hôn dạm hỏi nhưng chưa kịp làm lễ cưới.

Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác là một đại danh y tài năng xuất chúng, hết lòng thương yêu người bệnh, một nhân cách cao thượng và là một nhà tư tưởng, nhà văn nổi tiếng của dân tộc ở thế kỷ XVIII. Thế nhưng, ít ai ngờ rằng vị “thần y” này cũng đã trải qua một chuyện tình trắc trở, vì nặng lòng với đất nước và người cùng khổ mà ông trót lãng quên người vợ mà mình đã cầu hôn dạm hỏi nhưng chưa kịp làm lễ cưới. Trọn 40 năm sau, ông mới có dịp về lại quê xưa và gặp lại người cũ lúc này đã xuống tóc quy y, nương nhờ cửa Phật. Cuộc tái ngộ cảm động đã làm dấy lên trong lòng vị danh y bao cơn sóng lòng dào dạt…

Lê Hữu Trác hiệu là Hải Thượng Lãn Ông, sinh ngày 12 tháng 11 năm Canh Tư (1720) tại thôn Văn Xá, làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng (nay là xã Hoàng Hữu Nam, huyện Yên Mỹ) tỉnh Hưng Yên. Tuy nhiên, phần lớn cuộc đời ông đã sống và thành danh ở quê mẹ thuộc xứ Bầu Thượng, xã Tĩnh Diệm, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.

Lê Hữu Trác là con thứ bảy của ông Lê Hữu Mưu và bà Bùi Thị Thưởng. Dòng họ của ông có truyền thống khoa bảng khi có nhiều người trong nội tộc đều đỗ tiến sĩ và làm… Continue reading

NHỮNG TRIỀU ĐẠI TÀN BẠO TRONG LỊCH SỬ TRUNG HOA

Nguyễn Qúy Đại

ING.993

Dân tộc Trung Hoa luôn hãnh diện quốc gia họ có nền văn hoá lâu đời, đất rộng dân đông. Trong tiến trình dựng nước của Trung Hoa có hai cuộc cách mạng làm thay đổi toàn diện xã hội:

*Cuộc cách mạng thứ nhất do Tần Thủy Hoàng (Qin Shihuangdi) lãnh đạo vào năm 221 trước Công nguyên đã thống nhất đất nước, thành lập chế độ tập quyền về mặt chính trị thống nhất từ trung ương, xây dựng nền quân chủ chuyên chế.

* Cuộc cách mạng thứ hai, là cuộc Cách Mạng Tân Hợi năm 1911 lật đổ chế độ phong kiến dưới sự thống trị của các triều đại vua chúa, thành lập chế độ Cộng Hòa dân cử. Chế độ Cộng Hoà do Tôn Dật Tiên Văn (Sun Yatsen) khởi xướng và Tưởng Giới Thạch (Chiang Kai-shek) tiếp tục đã thất bại. Một lần nữa Trung Hoa rơi vào chế độ cộng sản độc tài, chuyên chính vô sản, do Mao Tse-tung lãnh đạo.

Những tiến trình lịch sử tóm lược

ING.994

Tần Thủy Hoàng (秦始皇) sinh 259-210 trước CN là vị Hoàng đế đầu tiên (der Erster Kaiser) trong lịch sử Trung Hoa, ông đã có công tiêu diệt các nước chư hầu Thời Chiến Quốc, thống nhất Trung Hoa lập nên một đế quốc rộng lớn. Tuy nhiên, ông cũng được xem là bạo chúa vì chính sách cai trị hà khắc và tàn bạo của mình. Tần Thủy Hoàng trên danh nghĩa là con của Trang Trương Vương nước Tần, nhưng nhiều sử liệu cho rằng sự thực cha của Tần Thủy Hoàng là Lã Bất Vi, đem người ái thiếp của mình đã có thai dâng cho một thái tử, Thái tử yêu thích và kết hôn lúc… Continue reading

TRIẾT GIA & LÃNH TỤ

Ngô Nhân Dụng

 

ING.667Trong Ðèn Cù, nhà văn Trần Ðĩnh kể lại cuộc gặp gỡ giữa triết gia Trần Ðức Thảo và Lê Duẩn, tổng bí thư đảng Cộng sản Việt Nam, chính Trần Ðức Thảo kể lại cho tác giả nghe. Trần Ðĩnh không nói chuyện xẩy ra vào năm nào, nhưng thời điểm chắc không quan trọng.

Một hôm Trần Ðức Thảo được thư ký của Lê Duẩn là Nguyễn Ðức Bình đến đón, bằng xe hơi, trong khi nhà triết học đang sống trong cảnh nghèo nàn, túng thiếu, bị cả bạn bè bỏ rơi vì đã tham dự nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm, viết những điều ngược lại với chủ trương văn hóa của Ðảng. Trước khi về Việt Nam tham gia kháng chiến chống Pháp, Trần Ðức Thảo ở Pháp đã nổi tiếng trong giới triết học châu Âu. Ông được Phạm Văn Ðồng đến thăm, tại Paris ba lần, mời về “giúp nước.” Nhưng khi về chiến khu ở Việt Bắc, Hồ Chí Minh bảo ông: “Chú đã học ở nước ngoài nhiều rồi, bây giờ về học nhân dân.” Trần Ðức Thảo tham gia nhóm Nhân Văn, Giai Phẩm, báo Nhân Văn ra số 3 đăng các bài Nỗ lực phát triển tự do dân chủ của ông. Vì vậy trong các đợt chỉnh huấn Trần Ðức Thảo cùng với Nguyễn Mạnh Tường, Ðào Duy Anh, Trương Tửu, bị đưa ra cho giáo viên và sinh viên đấu tố, cấm không cho dạy ở tại các trường Sư Phạm và Tổng Hợp Hà Nội nữa.

Nguyễn Ðức Bình nói ông tổng bí thư muốn đọc cho giáo sư nghe để xin ông góp ý kiến về một bài đang viết: “Ðề cương về vấn đề con người.” Ngồi… Continue reading

NGƯỜI VỢ LÍNH Ở THỦ ĐỨC ( Cố Đại Tá QLVNCH Hồ Ngọc Cẩn)

ING.985

Mùa xuân năm 1959. Họ đạo Thủ Đức có đám cưới nhà quê. Cô dâu Nguyễn thị Cảnh mỗi tuần giúp lễ và công tác thiện nguyện cho nhà Thờ. Chú rể là anh trung sĩ huấn luyện viên của trường bộ binh Thủ Đức.

Cha làm phép hôn phối. Họ Đạo tham dự và chúc mừng. Bên nhà gái theo đạo từ thuở xa xưa. Bên nhà trai cũng là gia đình Thiên Chúa Giáo. Cô gái quê ở Thủ Đức, 18 tuổi còn ở với mẹ. Cậu trai 20 tuổi xa nhà từ lâu. Cha cậu là hạ sĩ quan, gửi con vào thiếu sinh quân Gia Định từ lúc 13 tuổi. Khi trưởng thành, anh thiếu sinh quân nhập ngũ. Đi lính năm 1956. Mấy năm sau đeo lon trung sĩ. Quê anh ở Rạch Giá, làng Vĩnh Thanh Long, sau này là vùng Chương Thiện. Ngày đám cưới, ông già từ quê lên đại diện nhà trai.

Đứng trước bàn thờ, cha xứ hỏi rằng anh quân nhân này có nhận cô gái làm vợ không. Chú rể đáp thưa có. Cha hỏi cô gái có nhận anh trung sĩ này làm chồng. No đói có nhau. Gian khổ có nhau. Cô gái Thủ Đức vui mừng thưa có. Anh trung sĩ Rạch Giá phục vụ trường bộ binh đi lễ nhà thờ gặp cô gái xóm đạo Thủ Đức nên kết nghĩa vợ chồng. Cô gái thề trước nhà Chúa, có cả họ Đạo chứng kiến. Cô đã giữ trọn đời làm vợ người lính. Từ vợ trung sĩ trại gia binh cho đến phu nhân đại tá trong dinh tỉnh trưởng. Cô theo chồng đi khắp 4 phương suốt 16 năm chinh chiến để rồi 30 tháng 4 năm 75 trở thành vợ người… Continue reading

SỬ HAY LÀ SỬ TRUNG THỰC ?

Lê Chân Nhân

Thủ tướng giao Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an xây dựng chương trình giảng dạy nội dung bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia cho học sinh, sinh viên. Đây là một công việc quan trọng, một trách nhiệm nặng nề đối với các đơn vị được giao.

ING.799
Đã có nhiều ý kiến cho rằng, chương trình giáo dục lịch sử các cấp hiện nay chưa xây dựng được nội dung về bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, đặc biệt là chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Chưa kể, còn có các sự kiện lịch sử về cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc và biên giới Tây Nam. Chính vì vậy, nên đa số học sinh, sinh viên không biết hoặc biết không đầy đủ về những trang sử bảo vệ chủ quyền lãnh thổ oanh liệt này.

Các nhà nghiên cứu lịch sử cũng như các nhà giáo dục băn khoăn về việc giảng dạy bộ môn lịch sử trong trường phổ thông cũng như phát triển ngành lịch sử ở các trường đại học. Phần lớn học sinh không thích học lịch sử, sinh viên không theo học ngành lịch sử. Môn sử đang bị xem thường, cộng thêm với thiếu vắng kiến thức bảo vệ chủ quyền trong chương trình giảng dạy, thì không thể đòi hỏi công dân Việt Nam biết về chủ quyền của quốc gia trên biển Đông.

Lịch sử khô khan ư? Không! Mà bởi vì chúng ta chưa dạy lịch sử bằng nước mắt mà chỉ dạy bằng nụ cười chiến thắng. Học sinh chán chường khi nghe mãi một bài ca thắng… Continue reading

LỊCH SỬ ĐẦY SÓNG GIÓ CỦA CHỮ QUỐC NGỮ

Ngày 1-1-1882, chính quyền thực dân Pháp đã buộc người Việt ở Nam kỳ “phải dùng chữ quốc ngữ”. Nội dung quan trọng này nằm trong nghị định ra ngày 6-4-1878 “về việc dùng tiếng An Nam bằng mẫu tự Latin” do thống đốc Nam kỳ Lafont ký.

ING.494

Nghị định trên ra đời sau 20 năm Pháp xâm chiếm nước ta và sau thế kỷ ra đời và phát triển của chữ Việt.

Vì sao người Pháp ra nghị định 6-4-1878?

Điều này được nói rõ trong nội dung nghị định. Nguyên văn như sau:

“Xét rằng chữ viết của tiếng An Nam bằng mẫu tự Latin ngày nay đã khá phổ thông trong các tỉnh Nam kỳ, là thứ chữ dễ học hơn chữ Nho và tiện lợi nhiều so với chữ Nho trong việc làm cho những giao dịch giữa các quan cai trị với dân bản xứ được trực tiếp hơn. Xét rằng việc dùng hợp pháp thứ chữ đó chỉ làm cho dân chúng dễ đồng hóa với chính quyền ta, và vì thế thật là một đường lối chính trị tốt nếu bắt buộc dùng nó trong các giao dịch chính thức. Tuy nhiên, xét rằng một cải cách quan trọng như thế không thể thực hiện được ngay tức khắc, và để thực hiện nó cần có sự cộng tác của những tầng lớp lãnh đạo trong dân chúng. Chiếu đề nghị của quyền giám đốc nội vụ, sau khi hội đồng tư vấn đã được hội ý kiến, nay ra nghị định:

Điều 1: kể từ ngày 1-1-1882 tất cả những văn kiện chính thức, nghị định, quyết định, sắc lệnh, phán quyết, chỉ thị… sẽ được viết, ký và công bố bằng chữ mẫu tự Latin.

Điều 2: kể từ ngày trên,… Continue reading

BƯỚC NHẢY TỰ DO

Nguyệt Quỳnh 

ING.691

Chỉ có niềm khao khát mãnh liệt mới thôi thúc con người vượt lên trên chính họ, vượt qua nỗi sợ hãi, để bằng một hành động dũng cảm tự giải thoát chính mình. Người lính biên phòng Đông Đức, anh Conrad Schumann, khi ấy mới 19 tuổi. Conrad Schumann đã phóng qua hàng rào kẽm gai ngày 15/8/1961 để tìm tự do ở Tây Đức trong lúc bức tường Bá Linh mới bắt đầu được xây dựng. Người thanh niên can đảm này có thể bị bắn chết như khoảng 200 người khác trước và sau anh. Nhưng may mắn anh đã thoát được. Sau ngày bức tường Bá Linh sụp đổ, trong ngày lễ kỷ niệm hai mươi năm, nước Đức đã dựng tượng đài của anh để diễn đạt nỗi khao khát tự do của con người.

Rất nhiều năm sau ngày đất nước đã thống nhất, người dân Đông Đức vẫn giữ trong trí nhớ mình cảm giác sợ hãi của những ngày tháng sống dưới sự kiểm soát của công an và mạng lưới mật vụ Stasi. Hồi tưởng mức độ căng thẳng tinh thần trong những năm tháng đó, Thủ tướng Đức, bà Agela Merkel đã bày tỏ: “Cần phải giữ làm sao để họ không buộc mình phát điên”. Một phụ nữ từng sống ở Đông Đức đã nói với cô con gái của chị rằng: suốt trong khoảng 10 năm, chị vẫn nằm mơ từng đêm thấy mình trở về Đông Đức, sinh sống tại đó. Nhưng may mắn thay, đó chỉ là một cơn ác mộng mà thôi!

Nhân kỷ niệm 25 năm ngày bức tuờng Bá Linh sụp đổ, nhiều người Việt cũng không khỏi bùi ngùi nhớ lại biến cố 30/4/75 trên đất nước mình.… Continue reading

ĐỌC SÁCH ĐẠO CAO ĐÀI & VICTOR HUGO CỦA TS TRẦN THU DUNG

Phạm Trọng Chánh

ING.692

Victor Hugo là một nhà văn lớn, nhà chính trị Cộng hòa Pháp, chống lại Đế Chế Napoléon III, từng phải lưu vong xa nước 17 năm. Ông qua đời năm 1885 tại Paris, được chính phủ Đệ Tam Cộng Hòa Pháp vinh danh, quan tài quàn tại Khải Hoàn Môn đưa thẳng vào Điện Panthéon, một ngôi nhà thờ mới xây cất được biến thành nơi an nghỉ các vĩ nhân có công với nền Cộng hòa nước Pháp. 38 năm sau ông lại xuất hiện trong một buổi cầu cơ ở môt nơi gần biên giới Việt Nam và Campuchia với vai trò Chưởng đạo Linh thiêng Hội Thánh Cao Đài. Ngày nay khách du lịch đến thăm Toà Thánh Cao Đài tại Tây Ninh cũng như tại một số nơi khác, không khỏi ngạc nhiên trước bức tranh hoành tráng vẽ trên tường ba vị thánh Victor Hugo, Tôn Dật Tiên và Nguyễn Bỉnh Khiêm, hướng về hình tượng một con mắt, biểu tượng của Hội Tam Điểm nhiều người quỳ xuống tỏ lòng tôn kính. “Victor Hugo, nhà văn vĩ đại Pháp”.Sự hiện diện một nhà văn Pháp được phong thánh tại Việt Nam mang tên Chưởng Đạo Nguyệt Tâm Victor Hugo là một điều bí ẩn, đối với người Pháp cũng như người Việt Nam. Một tôn giáo mới thành lập trong một thời gian ngắn, chưa đến trăm năm đã có 5 triệu tín đồ khắp Việt Nam và hải ngoại.

Tiến trình thần thánh hóa một nhân vật, một nhà văn và sự hình thành tôn giáo đáng cho nghiên cứu: Vì sao ? Từ đâu ? Sự hình thành tôn giáo trong điều kiện dân trí như thế nào ? Trình độ học vấn những người sáng lập tôn… Continue reading

VÀI CHUYỆN THẬT XẢY RA TRONG 9 NĂM KHÁNG CHIẾN 45-54

Hứa Hoành

ING.696“Chiều 17/12/1946, “bác Hồ” và đồng đảng rút vào hang sâu trong núi Phượng Hoàng ở Sơn Tây. Nửa đêm 19/12/1946, từ chỗ ẩn náu an toàn, bác Hồ hùng hổ tuyên bố “Toàn quốc kháng chiến”, báo hại tụi du kích, Tự vệ thành…ngơ ngác mất người chỉ huy, cầm tầm vong vạt nhọn, dao găm, mã tấu, anh dũng…làm bia đỡ đạn Pháp ở Hà Nội !

“Ở Nam Bộ, khi Pháp mở cuộc tổng phản công (23/9/1945), Ủy Ban Hành Chánh (CS) của Trần Văn Giàu đã chạy thụt mạng vô Chợ Ðệm. Pháp tiến quân ra Phú Lâm, Ủy Ban chạy tới Tân An. Pháp mở cuộc ruồng bố Tân An, Ủy Ban chạy xuống Mỹ Tho, rồi tiện đường…dông tuốt vô Ðồng Tháp Mười mất dạng. Trong khi đó, các lãnh tụ quốc gia như Trần Văn Ân, Nguyễn Văn Sâm, Kha Vạng Cân, Hồ Văn Ngà liều chết ở lại lập Ủy Ban phong toả Saigon, Chợ Lớn… Trước khi bôn tẩu, Ủy Ban Kháng Chiến của Trần Văn Giàu ra lịnh đốt chợ, đốt phố, đốt nhà dân, và cho tự vệ đi lùng bắt các lãnh tụ quốc gia, đảng phái, tôn giáo…đem thủ tiêu. Cách chiến đấu của CS thật lạ lùng khó hiểu. Tỉnh nào cũng hành động y chang “bác Hồ”.

Nhà văn Nguyễn Gia Bảo, chứng nhân thời cuộc :

“Từ đó đến nay, nửa thế kỷ đã trôi qua..đa số chúng ta cứ đinh ninh ngày 19/8/45 là ngày “cách mạng thành công”. Ðiều đó hoàn toàn không đúng, như việc “kháng chiến thành công”, mang lại độc lập, tự do cho xứ sở. Thật ra, CS cướp công kháng chiến, một cuộc kháng chiến hào hùng, do toàn dân đóng góp…” (trong … Continue reading

NGOẠI GIAO “CON ĐƯỜNG TƠ LỤA” & SỰ XUYÊN TẠC LỊCH SỬ

Tansen Sen

Với dòng tiền và đầu tư dồi dào, sáng kiến Con đường Tơ lụa của chính phủ TQ có thể thúc đẩy nền kinh tế của nhiều quốc gia châu Á và châu Âu, miễn là các nước này tự nguyện tuyên bố có mối liên kết với đế chế TQ cổ đại.

Lịch sử đang bị bóp méo

Tháng Chín năm 2013, chưa đầy một năm sau khi đảm nhận vị trí Tổng Bí thư Ban Chấp hành TƯ ĐCS TQ, Tập Cận Bình đưa ra sáng kiến chính sách đối ngoại mới được gọi là “Vành đai Kinh tế Con đường Tơ lụa”. Trong một bài diễn văn tại Đại học Nazarbayev ở Kazakhstan, nhằm kêu gọi hợp tác và phát triển khu vực Á-Âu thông qua sáng kiến Con đường Tơ lụa mới này, Tập Cận Bình đã nêu ra năm mục tiêu cụ thể: tăng cường hợp tác kinh tế, cải thiện kết nối đường bộ, xúc tiến thương mại và đầu tư, tạo thuận lợi cho chuyển đổi tiền tệ, và thúc đẩy sự giao lưu giữa người dân với nhau.

Một tháng sau, tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN-TQ lần thứ 16 được tổ chức ở Brunei, Thủ tướng TQ Lý Khắc Cường đã đề xuất việc xây dựng một “Con đường Tơ lụa trên biển” thế kỷ 21 để cùng nhau thúc đẩy hợp tác hàng hải, kết nối, nghiên cứu khoa học và môi trường, và các hoạt động khai thác hải sản.

Vài ngày sau đó, trong bài phát biểu trước Quốc hội Indonesia, Tập Cận Bình đã lên tiếng ủng hộ ý tưởng này và tuyên bố TQ sẽ đóng góp kinh phí để “phát triển mạnh mẽ quan hệ đối tác hàng hải trong một nỗ lực… Continue reading

MỤC LỤC

 

QUANG TRUNG NGUYỄN HUỆ: ANH HÙNG DÂN TỘC [1788-1792]

Hoa BằngING.716


MỤC LỤC

Phần Một                                                                

Phần Hai

Phần Ba

Phần Bốn

Phần Năm

Phần Sáu

Phần Bảy

Phần Tám

Phần Chín

Phần Mười

Phần Mười Một

Phần Mười Hai

Phần Mười Ba

Phần Mười Bốn

Phần Mười Lăm

 

Tìm Kiếm