TRIẾT VIỆT

Từ Văn Tổ Tới Văn Miếu – Khi Rồng Việt Nam Uốn Khúc

Trích sách” Hồn Nước Với Lễ Gia Tiên”- Triết Gia Kim Định

Các nước Á Phi vì đang mải miết tranh thủ độc lập và lo đuổi kịp đà tiến kỹ thuật, chưa nhận ra trạng huống bi thảm kia, nên nhào vô theo sát Âu Mỹ trên con đường dẫn tới những người không phẩm tính, không niềm tin, không một lý tưởng để hăng say… Có cần chúng ta phải theo Âu Mỹ trong vấn đề này chăng?

                   … ước ao đồng bào ta rút ra được kinh nghiệm để thiết lập nên một nền văn hóa dân tộc nối liền với nhân tộc, một nền triết An Vi đặt ngoài mọi tranh luận ý hệ ngoại lai cũng như các tranh thủ và vận động của các tôn giáo, một nền văn hóa dân tộc mà bất cứ người nào, hễ đã là con dân nước Việt cũng phải học, phải đọc, phải coi trọng như một di sản của tổ tiên trối lại, như một bửu bối giữ nước, càng ngày càng trở nên cần thiết trong một nước đa giáo.

                  Còn nếu đòi một “tôn giáo” cho quốc gia thì đó sẽ là “Gia Tiên” và “Quốc Tố” tức linh khí của nước non cũng gọi là Rồng Việt.

Triết Lý An Vi và Phép Thiền Chỉ Quán

Đông Lan

Mở đầu phép Qui Tâm theo Triết Lý An Vi, là bước Tri Chỉ, có nghĩa là Biết Dừng. Biết dừng là ở đâu? Dừng nơi chốn nên dừng. Tu theo pháp Nhân Chủ An Vi, là dừng lại nơi chính Trung, chính phận, chính vị của Người. Chúng ta đã hiểu Trung là gì, Chính là gì, Người là gì, tức là ta đã biết những nguyên tắc căn bản của định luật vũ trụ mà ta là một thành phần nhỏ bé mà linh thiêng, mầu nhiệm. Trên con đường Qui Tâm, ta có thể áp dụng trợ duyên từ Thiền Chỉ Quán để đạt thanh thịnh và cũng là trau giồi đạo đức cá nhân. Từ Tri Chỉ đến Thiền Chỉ là một kết hợp hài hòa giữa cái biết và làm, là dừng lại nơi lưỡng – nhất – tính của vạn vật.

Từ Tri Chỉ đến Thiền Chỉ, Định Trí, Tĩnh Lặng, An Vi rồi cuối cùng Tâm thức lại xóa bỏ cả An lẫn Vi chính là Pháp Thiền Chỉ Quán của Phật Giáo.

Ba Mô Thức Căn Bản của Việt Nho

Đông Lan

  1. ÂM DƯƠNG
  2.  TAM TÀI
  3. NGŨ HÀNH

Triết Lý và Thi Ca

Lê Việt Thường

..Triết Gia Heidegger tự hỏi là cuối cùng có sự khác biệt nền tảng nào chăng giữa NHÀ THƠ biết Suy Tư và NHÀ TƯ TƯỞNG có tâm hồn Thi Sĩ ? Theo ông, trên nguyên tắc, Thi Sĩ không cần phải biết Suy Tư và Tư Tưởng gia không cần phải biết làm Thơ. Nhưng muốn trở thành THI HÀO, THI BÁ, tức Thi Sĩ Hàng Đầu, có một loại Suy Tư mà Nhà Thơ cần phải thực hiện, có cùng chung một nội dung, tinh hoa với loại Suy Tư mà Tư Tưởng Gia Hàng Đầu phải thực hiện: đó là loại SUY TƯ mang tính chất Tinh Khiết, Thâm Hậu,Vững Chắc của THI CA, tức loại Suy Tư mà Ngôn Từ và nội dung chính là hiện thân của Dòng Thơ Lai Láng!

………….

Tóm lại, chủ trương Ý-TÌNH- CHÍ của VIỆTNHO có vẻ đi rất đúng đường TIẾN HÓA của Khoa Học và Triết Học ngày nay. Triết Gia Heidegger cũng có nhận định như sau “Chỉ duy nhất có THI CA mới đứng trên cùng bình diện với TRIẾT LÝ và Suy Tư Triết Lý”.(10) Và có lẽ chỉ Ở TRÊN ĐỈNH CAO VÚT CỦA TRIẾT LÝ và THI CA NGƯỜI TA MỚI BẮT GẶP ĐƯỢCMINH TRIẾT

Bài Tổng Kết về việc Con Cháu Bác Hồ Tiếm Danh An Việt

Lời Ngỏ

Như chúng ta đã biết, khi vừa qua tỵ nạn CS tại Hoa Kỳ, Cố Triết Gia Lương Kim Định song song với việc viết sách cho hoàn tất một Bộ sách Triết Lý An Vi và Việt Nho với tầm nhìn hàng thế kỷ, đã để lại cho Dân Tộc Việt một hoạ đồ dựng xây quê hương ngàn năm vinh vượng.

Gần đây, tại Việt Nam, có những nhóm mượn danh nghiã An Việt –  Hành trình văn hoá Phục Việt của Ngài để lạị –  nhưng  họ lại  không làm gì phát triển An Việt, không thật sự thực hành ý thức, đạo lý của An Vi, chỉ mượn tên vì háo danh, hoặc với nhiều mục đích nào khác. Tệ hại nhất, theo trào lưu a dua, sau CPTPP, một số nghiệp đoàn đã thành lập, và sử dụng  Việt Nho  cho những xảo thuật tuyên truyền, phe nhóm,  làm giới trẻ,  và những người Việt còn chút lòng chung  bị sa vào cái bẫy sập tù tội, hay bị lợi dụng cho những mưu đồ cá nhân, bất chính.  Gần đây nhất, ngày 01-10-2021 một bài viết công khai ca ngợi Hồ Chí Minh tung ra  trong nhóm Nghiệp đoàn sinh viên ( đã giải thể), tự xưng là An Việt ở trong nước, khiến  Việt Nhân –  một thành viên lão   thành  – phải lên tiếng  vạch rõ việc thật giả đang rất khó phân này.

Với góc nhìn từ Tâm đạo Việt, chúng tôi phổ biến những bài viết của tất cả. 

  Phần thẩm định, xin nhường cho độc giả.

——————————————————————————————————————-

Trường Hợp «Tinh Hoa Ý Thức Hệ Việt Nho» của Gs Trần Văn Đoàn

Lê Việt Thường

Sự kiện dân tộc VIỆT đánh mất nền Độc Lập CHÍNH TRỊ cách đây hơn 100 năm kéo theo nhiều hậu quả không lường trước được. Thật vậy, nếu xưa kia, sự LỆ THUỘC thường được chấm dứt với sự ra đi của kẻ xâm lăng, thì lần này trái lại, chính giới TRÍ THỨC của nước Bị Trị, vô tình hay hữu ý lại tiếp tục Dung Dưỡng, kéo dài tình trạng Lệ Thuộc rất lâu sau khi kẻ xâm lăng đã ra đi.. Lý do có lẽ là vì lần này, sự đánh Mất Chủ Quyền không chỉ giới hạn ở lãnh vực Chính Trị, mà tính chất TOÀN DIỆN hơn nên lan rộng ra ở mọi địa hạt, nhất là ở bình diện Văn Hóa, Triết Học.

«Bóng Ma» DĨ VÃNG vẫn không thôi Ám Ảnh giới Trí Thức và Lãnh Đạo Việt. Đến nỗi để biện minh cho các CHIÊU BÀI như Canh Tân, Gỉai Phóng …họ vẫn Trở Lại bàn về những Vấn Đề, dùng những Phương Pháp Lý Luận, cũng như đưa ra những Gỉai Pháp của các Thế Kỷ TRƯỚC . Họ làm như hơn một thế kỷ trôi qua, không có biến chuyển gì quan trọng đã xảy ra cả! Nói cho đúng, họ có nhận thấy sư thay đổi, rất nhiều thay đổi là đàng khác nhưng họ chỉ giới hạn sự QUAN SÁT ở bình diện THƯỜNG NHẬT hay ở các địa hạt như Chính Trị, Kinh Tế, Xã Hội…,

Tam Tự Kinh 三 字 經 Tân Biên

Việt Nhân


Từ trước tới nay nhiều người ta đã không phân biệt được Hán Nho và Việt Nho, nên khi nói đến Nho là liền có ý nghĩ Nho giáo là quê mùa và lạc hậu, nên có thái độ khinh miệt, xa lánh.
Cha ông ta đã theo Hán Nho, giải nghĩa các chữ Nho bằng những từ mà không rõ nghĩa, như chữ Chi là chưng , Sở là thưở . . . , không biết lúc trước người ta có hiểu không, nhưng nay thì chúng ta đành chịu, và cách giải nghĩa một số câu văn cũng rất mơ hồ, chẳng rỏ ý nghĩa đích thực ra sao – Khi giảng nghĩa các câu, chúng tôi cố đem những tư tưởng Nho giáo về Nhân chủ, Tam tài, Ngũ hành . . . cùng các luật lớn ( Thiên Lý ) làm cho rõ ý nghĩa của câu văn. Có trường hợp chúng tôi xen dặm vào những lời phân giải để phân biệt Việt Nho với Hán Nho. Hán Nho đã bẻ quẹo đã cạo sửa Văn hoá của Tổ tiên Việt ta, làm cho chúng ta xa rời đại Đạo, tức là Đạo làm Người.

( còn tiếp)

———————————————————————————————————

AN VI và Tranh Thập Mục Ngưu Đồ

Đông Lan

Với Thiền, tu thì Tiệm, mà chứng thì Đốn. Nghĩa là, sự tu tập thiền vẫn cần đặt ra trong chiều thời gian mà đi đến từ từ, nhưng chứng là một biến cố ngoài thời gian. Thập Mục Ngưu Đồ ( mười bức tranh chăn trâu) của Thiền Tông cũng ghi lại bước tiến từng thứ bậc ấy.
Bước tiến ấy theo ba đoạn đường: Hữu Vi- Sai Tâm bắt Tâm; Vô Vi- Tâm Vô Tâm; An Vi- Bình Thường Tâm.

……….Chú mục đồng trở về với trời đất, có trời trong ta mà cũng có đất trong ta. Thế gian này trong muôn vật phân chia vọng động mà ta vẫn Bình An Thanh Tịnh, nếu không có cảnh Sắc này làm sao ta liễu ngộ cảnh Không? Ô kìa, núi vẫn là núi, mà mây cũng vẫn là mây, Tâm Hư Không mà đâu đâu không là cảnh hư không, nhìn hư huyễn trong sắc giới, thấy (kiến) Chân Như giữa đời thường, Tâm Bình An chính trong vọng động. Ôi, con đường đi của Thiền giả, bước Nghĩa Hành Trí Thức An Vi…“Vào rừng mà không khua lá, vào nước không quậy sóng”… Tu mà không biết mình tu, làm mà không thấy mình làm, trở về với trời đất để thấy Tâm ta là Tâm vũ trụ mà Tâm vũ trụ cũng là Tâm ta (tranh 9: Trở về nguồn cội). Và nữa, trở về với cuộc đời, với thế tục, trở về với cái Tâm Bình Thường, đất bụi đời không lem lấm được Tâm ta, thần linh hiển thánh trong từng nhất ý, nhất động của Ngôi Lời Nhập Thể và Nhập Thế (tranh 10: Thõng tay vào chợ), đâu đây lời Thánh Ca vang lên ngút ngàn

Chính Khí Việt

————————————————————————————————————–

Lý Đông A, Chính Khí Việt và Nghệ Thuật

Viên Linh

Với một nhân vật chỉ xuất hiện trong một thời gian ngắn ngủi, khoảng sáu năm, từ 1940 tới 1946, rồi không còn tăm tích, trong một cuộc đời hiện thực có thể cũng ngắn ngủi: hai mươi sáu năm – từ lúc lọt lòng mẹ tới khi ra khỏi cuộc nhân quần -, Lý Đông A đã để lại sau bóng dáng tiên tri mông lung của mình một huyền thoại lớn. Từ một nho sinh mảnh mai năm 16 tuổi ở làng Yên Tập tổng Yên Đổ Hà Nam, đến tay súng giữa trận tiền trên đồi Nga Mi, Ninh Bình, mái tóc xanh rũ xuống những pho kinh sử nơi Liễu Châu thư viện, và khuôn mặt đăm chiêu thi sĩ bên dòng Pắc Nậm, trên bến Đà Giang. Huyền thoại của ông, đó là huyền thoại một thiên tài yểu mệnh, một lý thuyết gia xuất chúng, một nhân kiệt không ước hẹn gắn bó gì với nhân gian. Vận nước trong cơn suy, linh khí vào mạch tận, anh hùng cái thế xoay không nổi cơ trời. Nhưng căn cứ vào những gì ông để lại, từ Huyết Hoa đến Đạo Trường Ngâm, ông là một tác giả, một nhà thơ chính khí, và là nhà thơ chính khí hàm xúc nhất của thập niên ’40, nếu không là của thế kỷ XX:

TRỞ VỀ TÔ THẮM QUÊ MẸ

Thư Hương ( Thái Bình Minh TriếtTriết Gia Kim Định )

Phật Giáo là một thực thể rất phiền toái vì vừa là một nền triết vừa là một tông giáo và tuy phát xuất từ Ấn Độ nhưng hồn lại từ Đông Á, lại du nhập vào nhiều nơi như Tàu, miền Đông Nam (các nước tiểu thừa) và Việt Nam. Chính sự du nhập ở nhiều nơi này giúp tìm ra những nét then chốt trong Phật Giáo, giúp cho thẩy mối liên hệ giữa Phật Giáo và Việt Nam có tính cách họ máu hàng dọc, được chứng tỏ bằng những lâu đài văn hóa cao cả không đâu có được như vậy. Xứng đáng là mô thức cho các cuộc giao thoa văn hóa khác. Ta sẽ lần lượt xét sơ qua.

AN VI: ĐƯỜNG VỀ MINH TRIẾT VIỆT

Đông Lan

Đường Về Tính Thể Viên Dung của Chân Lý An Vi

Nhận thấy chủ thuyết tư bản và cộng sản cũng chỉ là những lý thuyết kinh tế, đã thất bại trong việc mang lại tự do, bình đẳng và nhất là phẩm giá chân thực cho con người. Bộ sách Triết Lý An Vi là hướng đi Nhân Bản nhằm cứu gỡ bế tắc của tư bản hay là cộng sản. Nó xác tín lại giá trị nền tảng của con người, giới thiệu một vũ trụ quan và nhân sinh quan tiếp cận Chân Lý Toàn Diện. Đó là điều cả hai xã hội tư bản và cộng sản đang thiếu, và là nguyên nhân những khổ nạn của bao thế hệ .

Từ Văn Tổ tới Văn Miếu – Khi Rồng Việt Nam Uốn Khúc

Thư Hương ( Sách Hồn Nước Với Lễ Gia TiênTriết Gia Kim Định )

                      Văn tổ cũng như văn miếu là kết tinh của đạo thờ nhân tính, nhưng Văn tổ thuộc cỡ gia đình, còn văn miếu thuộc tầm mức làng nước. Nếu gia tiên vẫn có thể đứng vững trong thời mới, thì cũng có thể nói như thế về văn miếu. Hơn nữa văn miếu lại tỏ ra cần hơn cả gia tiên vì một tình trạng mới xảy đến cho hầu hết các nước trên thế giới đó là tình trạng đa giáo. Đối với quốc gia thì tôn giáo là một yếu tố tinh thần, nhiều khi là yếu tố thống nhất quốc gia rất linh nghiệm. Tuy nhiên chỉ được như thế bao lâu nước đó chỉ có một tôn giáo, hay nếu có vài ba dị giáo thì chỉ là một thiểu số bé nhỏ. Nhưng từ lúc một nước có nhiều tôn giáo mạnh gần ngang nhau thì từ đấy tôn giáo lại trở nên yếu tố gây chia rẽ. Lúc ấy nước nào có văn miếu, nghĩa là một nền văn hóa xây trên nhân bản thì thuốc chữa sẽ là “trùng tu văn miếu” tức đem văn hóa dân tộc lên làm yếu tố thống nhất dân tộc, còn tôn giáo thì chuyên về việc thiêng liêng tâm hồn, rút khỏi các hoạt động chung của nước, càng nhiều càng hay

Thành Kính Tưởng Niệm Thầy- Lễ Giỗ thứ 24

.

TIỂU SỬ CỐ TRIẾT GIA LƯƠNG KIM ÐỊNH

                                            

Triết Gia Lương Kim Ðịnh sinh ngày 15-06-1915 tại làng Trung Thành tỉnh Nam Ðịnh. Sau khi tốt nghiệp Triết tại Giáo Hoàng Chủng Viện  Saint Albert le Grand, Ngài dạy Triết Tây Phương tại Ðại Chủng Viện Quần Phương, Bùi Chu  từ năm 1943-46 và viết tác phẩm đầu tiên “ Duy Vật và Duy Thực” ( Sách sau này bị thất lạc) . Sau đó, năm 1947 Ngài được cử đi du học ở Pháp nghiên cứu về Văn Minh Pháp, Xã Hội học, Triết Học và  Nho Giáo tại Học Viện Cao Học Trung Quốc Học ( Institut des Hautes Études Chinoises, Paris).

Trở về nước  năm 1958, Ngài dạy Triết Học tại Học Viện Lê Bảo Tịnh, Gia Ðịnh. Từ năm 1961-1975 , Ngài là Giáo Sư  Triết Ðông Phương tại Ðại Học Văn Khoa Sàigòn, Viện Ðại Học Vạn Hạnh, Minh Ðức, Thành Nhân, An Giang. Trong thời gian này, Ngài đã sáng tác 19 tác phẩm Triết Học với nội dung xây dựng một Chủ Ðạo Việt cho Dân Tộc, có tên ‘Triết Lý An Vi’ và ‘Việt Nho’.

Hình ảnh một vị Giáo Sư  du học từ  Âu Châu về, nhưng lúc nào cũng chỉ với chiếc áo dài trắng của một nhà Nho đi dạy học giữa khung cảnh Tây, Mỹ hoá của các trường Ðại Học  tại miền Nam; mười lăm năm  với biết bao Tâm Tình, Trí Tuệ gửi gấm vào một Bộ Sách ‘Triết Lý An… Continue reading

Lời Thưa Của Một Người Học Trò Cũ

Thật thế, thưa quý vị, Triết Lý An Vi chính là hạt nhân của sự hồi sinh, sự phục hưng, về một NGÀY và MÙA MỚI cho Dân Tộc Việt –  Ngày Mùa Việt Nam Quê Hương Vinh Vượng.

     Ðêm bất an sẽ chuyển mình sang NGÀY AN LẠC.

     MÙA AN VI sẽ là Mùa Xuân đến sau khi đông tàn.

     Chúng tôi chỉ là những kẻ làm vườn quê mùa, cần cù, ươm trồng hạt nhân An Vi giữa mùa đông lạnh giá của quê hương. Có thể chúng tôi sẽ không có cơ duyên để thấy được mùa Xuân. Nhưng AN VI, nên làm mà không cần nhìn thấy kết quả của việc làm. Làm vì Ý Nghĩa của việc làm. Làm với Tâm An Vui, với Ý Thức Tự Do, với Phong Thái An Vi, như Thầy chúng tôi đã truyền dậy.

Tưởng Nhớ Nhà Hiền Triết – Triết Gia – Vị Thầy Khả Kính

Lê Việt Thường

Và chính trong bầu khí TỰ DO Tư Tưởng và Sáng Tạo của Miền
Nam VN (chứ không phải Miền Bắc) mà Chủ Thuyết AN
VI và VIỆT NHO bắt nguồn từ nền MINH TRIẾT VIỆTmới có
thể ra đời được! Thiết tưởng đó là Thành Tựu Cao Quý Nhất của
21 năm Sống Còn của Miền Nam VN (1954-1975) !!!

Luận Bàn Văn Hóa – Tập II

Lê Việt Thường

Sự Khác Biệt Giữa Hán Nho Và Việt Nho

Đông Lan

Từ trước tới nay, ta thường chỉ căn cứ vào những sách của Tàu , và chỉ xét Tàu từ thời Tần, Hán trở đi, với lãnh thổ rộng lớn, dân cư đông đúc, nên sự ngộ nhận có tới hàng nhiều ngàn năm, rằng Tàu là “Trung Quốc”( nước ở giữa, chung quanh là chư hầu) như họ tự phong, và Nho giáo có nguồn gốc ở bên Tàu. Nhất là với Tây Âu thì không mấy người biết về Nho, mà chỉ đồng hoá Nho với Khổng Tử, Nho là “Confucianism”.

Nhưng trước những công trình vô tư của khoa học liên ngành khảo cổ, di truyền, nhân chủng, hải dương…ngày hôm nay, thì những kiến thức trên bị coi là xưa cũ, không đúng với sự thực.

Cũng như, với công trình nghiên cứu nghiêm túc một đời người với 32 tác phẩm triết học ,Triết gia Kim Định đã xác tín Nho Giáo đã có từ rất lâu, trước khi Tàu lập quốc, trước khi có một dân tộc là Tàu xuất hiện. Nho xuất phát từ thời khuyết sử và gồm có bốn giai đoạn:

…..Một là Hoàng Nho thuộc Tam Hòang từ 4480-3080 trước Tây Lịch.

,,,,,Hai là Di Nho từ vua Thuấn 2255 – vua Vũ 2205 trước T.L.

,,,,,Ba là Việt Nho hay Nguyên Nho lối Xuân Thu 821 trước T.L. Nội dung Việt Nho được Khổng Tử công thức hóa thành Ngũ Kinh của Nho giáo.

,,,,,Bốn là Hán Nho cũng là Khổng Giáo từ nhà Chu 1122 trước T.L. nhưng bị sa đoạ với sự xuyên tạc của nhà Hán.

Những Dấu Chỉ Của Thi Ca Triết Việt

Đông Lan

* Quan Thư và Hán Quảng ( Kinh Thi)
* Thằng Bờm Có Cái Quạt Mo.
* Con Mèo Mà Trèo Cây Cau.
* Tâm Đạo trong Truyện Kiều.
* Thiếu Phụ Nam Xương.
* Con Cò và Nguyên Lý Mẹ.


Theo tinh thần Tây Phương, tùy theo từng thời kỳ, có những kỳ gian Thi Ca bị lọai bỏ ra khỏi Triết học, đến nỗi Platon, học trò của Socrate (một triết gia Hy Lạp, giữa thế kỷ thứ V và IV trước Tây Lịch), phải đem đốt đi những tập thơ của mình trước kia để theo chân thầy học Triết. Nhưng với trào lưu mới hiện nay, như Nietzsche, Holderlin, và với triết gia hàng đầu Heidegger của Tây Phương, thì “ Chỉ duy nhất có Thi Ca mới đứng trên cùng bình diện với Triết Lý và Suy Tư Triết Lý”.( Seule la poésie est du même ordre que la philosophie et le penser philosophique, Introduction à la métaphysique, trang 34)

Nhưng còn với Đông Phương, thì sự tương quan kết hợp giữa Triết Lý và Thi Ca đã có truyền thống trong dòng văn hóa lâu đời của chúng ta.

Vài Nét Về Huyền Sử Việt

Đông Lan

1- Huyền Sử Hồng Bàng và Bánh Dầy Bánh Chưng với Tâm Thức Lưỡng Hợp
2- Nhân Chủ Tính trong Huyền Sử Việt
3- Cơ Cấu Huyền Sử

Huyền Sử Hồng Bàng và Bánh Dầy BánhChưng với Tâm Thức Lưỡng Hợp

Tuổi thơ của chúng ta ai không ít nhất thuộc vài câu chuyện cổ xưa, chuyện lập nước Văn Lang, của thời đại HồngBàng 18 vua Hùng.

Bọc Mẹ Trăm Con cũng đã ấm lòng bao mối tình yêu người yêu nước yêu quê, nhất là nơi khắp đời lưu lạc tha hương. Nhưng có bao giờ chúng ta tự hỏi rằng sao Bọc Mẹ lại bị chính các con Mẹ xé tọac đau thương? Tổ ấm của Chim Hồng,chim Lạc, nay còn đâu nữa?

Việt Nam Quê Hương còn có gì để học hỏi, tìm về? Và gia tài tinh thần nào, chúng ta, những kẻ bất đắc chí phải lữ thứ tha hương, còn có để trao gửi lại thế hệ mai sau?

Quê Hương có chỉ là “ Chùm khế ngọt” không? Bóng Mẹ có về trên cầu tre nhỏ lênh khênh như các khúc hát ru ngủ hồn người lạc bến mê nào? Quê hương tan nát, quê hương rã rời, đâu phải là khúc hát lời ru …

Cho nên có một chiều trên đáy vực đau thương, tận cùng mê lộ, mở dòng sử mệnh dựng nước, dựng nhà, tìm về đạo nước, đạo nhà…Xem có con đường nào về với Quê Hương.

Miền Quê Hương Tinh Thần không ai có thể đánh tráo, biển lận, bôi đen hay là nhuộm đỏ.

Hằng Tính Của Dân Tộc Việt

Lê Việt Thường

Lịch Sử Văn hóa Tây Phương cận đại chứng kiến sự đối đầu giữa một bên là CÁ NHÂN chủ nghĩa (Tư Bản) và bên kia là ĐOÀN LŨ chủ nghĩa (Cộng Sản) đưa tới chiến tranh Ý Thức Hệ. Trong khi đó, cái HẰNG TÍNH nền tảng nhất của Văn hóa VIỆT là đi theo con đường DÂN TỘC nhằm dung HÒA hai CỰC ĐOAN nêu trên. Phương pháp áp dụng là Tôi Luyện con người khỏi những ích kỷ, hẹp hòi nhỏ nhen của Cá Nhân chủ nghĩa để đặt vào môi trường những Công Thể nhỏ đầy ắp Tình Người như Gia Đình, Làng Xã, Đất Nước, trước khi bàn đến Nhân Loại hầu cho ý niệm này một nội dung Huynh Đệ phổ biến chân thực, đồng thời Tránh những Ác Quả của chủ nghĩa Tam Vô của Cộng Sản được che dấu dưới những chiêu bài hoa mỹ về hình thức nhưng rỗng tuyếch về nội dung của một thế giới đại đồng Không Tưởng. Câu hỏi được đặt ra ở đây là tuyên dương Hằng Tính của DÂN TỘC có đi ngược lại với xu hướng TOÀN CẦU HÓA ngày nay hay không?

Luận Bàn Văn Hóa- Tập I

Hằng Tính Của Dân Tộc

Vài Cảm Nghĩ Về Buổi Tưởng Niệm Triết Gia Kim đinh Tại Văn Miếu Hà Nội

Những-Ngộ-Nhận-Lâu-đời-Về-Nho-Giáo

Claude-LeVi-Strauss-và-Khoa-Học-Nhân-Văn

Cơ-Cấu-Luận-và-Các-Trào-Lưu-Văn-Hoá-Khác

Cơ-Cấu-Luận-Dịch-Luận-và-Vấn-đề-Cũ-Mới

Kinh-Qua-Triết-Học-Tây-Phương

Kinh-Qua-Triết-Học-ấn-độ

Huyền-Sử-Tiên-Rồng

Tưởng Nhớ Nhà Hiền Triết, Triết Gia, Vị Thầy Khả Kính

Thuyết Tam Tài

Việt Nhân

Theo Nho thì: “ Vạn vật đồng nhất Thể, vạn vật tương liên: Mọi vật đều có cùng bản thể: Vật chất và năng lượng, nên mọi vật đều có liên hệ mật thiết với nhau.”
Bài thơ dưới đây diễn tả mối liên hệ khăng khít giữa Tam tài:

Trời -Đất sinh Ta có ý không

Chưa sinh Trời -Đất có Ta trong

Ta cùng Trời -Đất ba ngôi sánh

Trời Đất in Ta một chữ đồng

Đất nứt Ta ra Trời chuyển động

Ta thay Trời mở Đất mênh mông

Trời che Đất chở Ta thong thả

Trời – Đất Ta đầy đủ Hoá công.

( Vịnh Tam Tài. Trần Cao Vân)

HUYỀN SỬ TIÊN RỒNG MINH TRIẾT UYÊN NGUYÊN của DÂN TỘC

​Đông Lan

Từ minh tâm: “ Tổ Nước cũng là Tổ Người” hồn phiêu lãng như chắp cánh chim Hồng, chim Lạc bay thẳng về Tổ Ấm có tiếng ca huyền thoại ngàn năm của nước Việt Linh. Trong gió Mùa Xuân còn vương, ngày Tiên tháng Rồng con xin dâng lên Quốc Tổ đoá hoa An ,đoá Quốc Hoa mà Thầy của con đã gieo hạt, ươm trồng bằng tất cả tâm tư của một đời vượt lên, vượt qua cả chính mình. Cho con biết Yêu và Mến, suối nguồn Minh Triết Quê Hương.

Tính Quân Bình Trong Khoa Học và Trong Triết Việt Thể Hiện Qua Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam

Thái đông A

Mãi tới gần đây, khoa vật lý lượng tử và khoa vật lý hạ nguyên tử mới khám phá ra được luật quân bình mà họ gọi là thực tại lượng tử. Một trong những thực tại lượng tử được phát biểu như sau:

Thực tại gồm hai phần, phần tiềm ẩn và phần thể hiện”

(Reality is two fold, consisting of potentials and actualities)


An Vi: đường Về Minh Triết Việt

đông Lan

Triết Lý An Vi là công trình một đời của Cố Triết Gia Lương Kim Định, gồm 32 quyển sách đã xuất bản. Nội dung của toàn bộ sách là xây dựng một Chủ Đạo Việt.



Triết Lý An Vi khai quật kho tàng Huyền Sử để rồi từ đó tìm ra cơ cấu Triết Lý của Nguyên Nho, và vẽ lại hoạ đồ quê nước để thế hệ sau khỏi bị lạc đường khi muốn trở về nguồn.

Tiết Lập Xuân

đông Lan

Tiết Lập Xuân là tiết nhịp giao cảm đầu tiên của con người với chữ thời trong năm mới… Nếu tính điểm xuân phân là gốc (kinh độ Mặt Trời bằng 0°) thì vị trí của điểm lập xuân là kinh độ Mặt Trời bằng 315°. ……..

……….Trở về với Việt đạo, thuận tiện thì lễ hội vào mùa với đàn nhạc thơ ca tưng bừng vũ điệu. Giản dị nhưng vẫn đạt Thiên Lý, chúng ta có thể đón Tiết Lập Xuân với hương vị thanh đạm của thời trà, những thời trà độc ẩm, đối ẩm hay là quần ẩm. Lắng đọng tâm hồn, ghé bến thời gian, cảm nghe suối nguồn an bình của đạo lý Hòa Thời, tươi tẩm ươm mầm hạt tâm linh cho một mùa gieo gặt mới…Mùa Thiện Mỹ AN VI.

Việt Tâm Linh – Thu Thủy

Phương Pháp Tư Duy đông Phương và Nền Hòa Bình Thế Giới

Thái đông A

Mục đích của phương pháp tư duy nhị phân hay tư duy hai chiều là đạt Tâm An trong khi khi tư duy phức hợp vẫn chỉ cố gắng đi tìm những giải đáp cho những vấn đề thuộc về vật chất trong cõi hiện tượng.

Vài Cảm Nghĩ Về Buổi Tưởng Niệm Triết Gia Kim định Tại Văn Miếu Hà Nội

Luận Bàn Văn Hóa – Tập II

Việt Lịch 4899

Một Trăm Năm Ngày Sinh Nhà Cách Mạng Dân Tộc Lý đông A ( 1920 – 2020 )

Tiểu Sử Nhà Cách Mạng Dân Tộc Lý đông A

X.Y. Thái Dịch Lý Ðông A tên thật là Nguyễn Hữu Thanh, sinh ngày 11 tháng 01 năm 1920, tuổi Canh Thân, mệnh Mộc, tại huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam. Ông thông hiểu về Dịch Lý, Phật Học, và Lịch Sử, v.v… khi mới 16 tuổi.

https://minhtrietviet.net/huyet-hoa-muc-luc/

https://minhtrietviet.net/dao-truong-ngam/

Luận Bàn Văn Hóa- Tập I

An Vi Tâm đạo Ca

Luyện Kim

Hãy hớp thẳng vào luồng linh lực chứa

Nơi giếng thiêng Việt Tỉnh vọt trào lên
Nơi Ba đất, Hai Trời đương hội diễn
Nuốt vào lòng Ngưu, đẩu giúp nhân sinh.

Tết Là Gì ?

Triết Gia Kim định

Muốn hiểu được tầm quan trọng của tết cần nhớ lại với Việt nho thì siêu hình là thời gian và tình cảm. Cả hai đều vô hình nhưng lại có thực, một đàng là chất liệu làm nên con người, một đàng thì tràn ngập toàn thể con người dưới tên bao quát là tình, tâm tình. Đó là hai then chốt của con người, con người cần phải “tuỳ thời”. “Tuỳ thời chi nghĩa


..


Những Ngày Tết Trong Năm

Tết Táo Quân vào ngày 23 tháng Chạp – người ta coi đây là ngày “vua bếp” lên chầu Trời để tâu lại việc bếp núc, làm ăn, cư xử của gia đình trong năm qua.

INK.530

Trí Sạch Tâm An

Nguyễn Tầm Thường, S.J.

Nhà đạo sĩ khổ hạnh sai hai đệ tử Visto và Raja đến đền thờ. Trên đường đi, hai người học trò nghe tiếng vùng Sitra nổi tiếng có nhiều gái đẹp chèo đò. Trước khi qua sông lúc nắng chiều đang phai, Visto rủ bạn ngủ qua đêm bên này sông xem các cô gái duyên dáng thế nào. Đợi sáng sau hãy đến đền thờ. Raja không ngờ đồng môn của mình có tư

Nhạc

Triết Gia Kim định

Trong nghệ thuật cao sâu thấu triệt không gì bì kịp nhạc. Vì nhạc đi theo tiết điệu âm dương: một mạnh một yếu, một ra một vào, tức là nhịp của vũ trụ. Vì lẽ đó nhạc giữ một vai trò quan trọng bậc nhất trong nho giáo. Với Khổng Tử nhạc là Đạo, nhạc là Minh triết, nhạc là Triết lý nhân sinh, cũng một thở một hút như sự sống vậy. Bởi đấy

An Vi Luận

Triết Gia KIm định

Nhiều người hiểu an vi là thanh nhàn không phải làm gì, khỏi bận
tâm đi kiếm tiền kiếm của: thế gọi là an vi. Nếu an vi là vậy thì cần chi đến triết lý
chỉ việc gõ cửa mấy ông nhà giàu bự là đủ. Có người lại nghĩ rằng an vi là không
nóng giận, cả không vui mừng nữa; sống bình thản trước mọi cảnh đời: éo le cũng
như đắc ý

Nhân Chủ Tính Trong Huyền Sử Việt

đông Lan

Hay nói cách khác, NHÂN CHỦ là Xương Sống của Nhân Quyền và Dân Chủ. Không có Triết Lý Chính Trị Nhân Chủ thì Nhân Quyền chỉ là Mị Dân, Dân Chủ chỉ là Hình Thức, con người vẫn nô lệ dưới nhiều dạng thức, vẫn bị vong thân, vẫn cần chờ được giải phóng.

…..Chúng ta đang sống trong sự giả trá của ngôn từ, đang quay cuồng theo một thế giới của các suy tư hời hợt,

Thiền An Vi và Khoa Học

đông Lan

An là trạng thái chiêm ngưỡng Ðóa Hoa Tâm khai mở. Là thế giới của giác ngộ Thể Ðồng của Ðạo Huyền Vi Nhiệm Mầu Vốn Không Lời

.

Tìm Kiếm