CỬU BÌNH 9 (Bản tính lưu manh của Đảng Cộng Sản Trung Quốc)

Lời mở đầu

Cuộc vận động chủ nghĩa cộng sản mà ồn ào hơn một thế kỷ chỉ mang lại cho nhân loại chiến tranh, nghèo khổ, đẫm máu và chuyên chế. Với sự sụp đổ của Liên Bang Sô Viết và các Đảng Cộng Sản Đông Âu, vở kịch tai hại và tàn bạo này cuối cùng đã bước sang màn chót vào cuối thế kỷ vừa qua. Không một ai, từ thường dân đến Tổng bí thư Đảng, còn tin vào những lời ma quỷ của chủ nghĩa Cộng Sản nữa.

Chính quyền của Đảng cộng sản ra đời không phải “theo ý trời” (quân quyền thần thụ) [1] cũng không phải từ bầu cử dân chủ. Ngày nay, khi niềm tin tưởng triệt để vào sự sinh tồn của nó đã bị hủy diệt thì tính hợp pháp của sự chấp chính này đang đối diện với một thử thách chưa từng có trong lịch sử.

Đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã không muốn tuân theo trào lưu lịch sử mà tự động thoái xuất khỏi võ đài lịch sử. Thay vào đó, nó sử dụng các loại thủ đoạn lưu manh đã được hình thành trong nhiều thập niên qua các cuộc vận động chính trị để bắt đầu lại một vòng  tìm kiếm tính hợp pháp, và để hồi sinh sự tranh đấu điên loạn của nó.

Các chính sách cải cách và cởi mở của Đảng cộng sản Trung Quốc che đậy một ý định tuyệt vọng là duy trì lợi ích tập đoàn và chính quyền độc tài của nó.  Dù rằng bị trói buộc chặt chẽ, các thành quả kinh tếvẫn cứ đạt được bởi nỗ lực của nhân dân Trung Quốc trong 20 năm qua, tuy vậy vẫn không thuyết phục được ĐCSTQ buông con dao đồ tể của nó xuống. Thay vào đó, ĐCSTQ đã ăn cắp các thành quả này và sử dụng chúng để chứng thực việc nắm chính quyền của nó là hợp pháp, làm cho các hành động lưu manh từ trước đến nay của nó còn giả dối và lầm lạc hơn. Điều đáng sợ hơn là ĐCSTQ đang toàn lực hủy diệt nền tảng đạo đức của toàn thể dân tộc, cố gắng biến đổi mỗi một công dân Trung Quốc, trở thành các kẻ lưu manh ở mức độ khác nhau để tạo nên một hoàn cảnh sinh tồn mà “thăng tiến với thời gian” cho ĐCSTQ.

Vào thời điểm lịch sử hôm nay, đặc biệt quan trọng cho chúng ta hiểu được tường tận tại sao Đảng cộng sản lại hành động giống như những tên lưu manh, và cho chúng ta nhận diện cái bản tính lưu manh của nó, có như vậy đất nước Trung Quốc mới có thể đạt được ổn định và hòa bình lâu dài, bước vào một thời đại không có Đảng cộng sản càng sớm càng tốt, và xây dựng một tương lai huy hoàng của một đất nước đã được hồi phục.

I. Bản chất lưu manh của Đảng Cộng Sản từ xưa đến nay không thay đổi

1. Sự cải cách của Đảng Cộng Sản là cho ai?

Trong lịch sử , cứ mỗi lần Đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) gặp phải nguy cơ nó sẽ biểu lộ một số dấu hiệu cải tiến, làm mê hoặc người dân mà hình thành những ảo tưởng về ĐCSTQ. Nhưng không một ngoại lệ, các ảo tưởng đã tan vỡ từng lần, từng lần một. Ngày nay ĐCSTQ đang theo đuổi các lợi ích ngắn hạn nhằm trình diễn một màn thịnh vượng kinh tế để một lần nữa thuyết phục người dân tin vào các ảo tưởng của Đảng Cộng Sản. Tuy nhiên, những xung đột căn bản giữa lợi ích của bản thân Đảng cộng sản, với lợi ích của quốc gia dân tộc đã quyết định rằng sự thịnh vượng giả tạo này sẽ không kéo dài lâu nữa. “Sự cải cách” mà ĐCSTQ đã hứa hẹn chỉ có một mục đích: duy trì sự thống trị của Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Đó là một cải cách yếu kém khập khiễng, một thay đổi trên bề mặt chứ không phải bản chất. Nằm bên dưới của sự phát triển khập khiễng là đang tiềm ẩn một nguy cơ to lớn của xã hội. Một khi nguy cơ bùng nổ, quốc gia và dân tộc một lần nữa sẽ gặp khổ nạn.

Với sự thay đổi lãnh tụ, thế hệ lãnh đạo mới của ĐCSTQ không có phần trong cuộc cách mạng cộng sản thời xưa, bởi thế sẽ có ít uy tín và ít tín nhiệm hơn trong việc điều hành quốc gia. Giữa cơn nguy cơ về tính cách hợp pháp của nó, việc bảo vệ lợiích Đảng của ĐCSTQ đã trở thành một bảo đảm căn bản càng ngày càng tăng nhằm duy trì quyền lợi của những cá nhân trong nội bộ của ĐCSTQ. Ích kỷ mà không kiềm chế được là bản tính của Đảng cộng sản . Hy vọng vào một Đảng như vậy mà có thể hiến dâng chính nó để phát triển quốc gia một cách hòa bình thì chỉ là một mơ tưởng hão huyền.

Chúng ta hãy xem tờ Nhân dân nhật báo, cái loa của ĐCSTQ, đã nói gì trên trang đầu vào ngày 12/7/2004: “Những phương pháp biện chứng trong lịch sử đã dạy cho những người của ĐCSTQ điều sau đây: Điều nên đổi thì tất phải thay đổi, nếu không,suy đồi sẽ theo sau. Điều gì không nên đổi thì quyết không thể thay đổi, nếu không, nó sẽ dẫn đến tự huỷ diệt.”

Cái gì cần phải giữ không đổi?  Tờ Nhân Dân nhật báo giải thích như thế này: “Đường lối cơ bản của Đảng là ‘một trung tâm, và hai điểm cơ bản’ phải kéo dài vững chắc trong trăm năm không một dao động”[2]. Người ta không nhất thiết phải hiểu cái gọi là “trung tâm” và “điểm cơ bản” thực ra là cái gì, song mọi người đều biết rằng cái quyết tâm của tà linh cộng sản là duy trì lợi ích tập thể, và sự chuyên chế độc tài sẽ không bao giờ thay đổi. Chủ nghĩa cộng sản đã bị thất bại trên toàn cầu, đang bị sụp đổ đến độ càng ngày càng suy tàn. Tuy nhiên, trong khi vẫy vùng hấp hối thì một thứ gì càng thối nát lại càng có tính tàn phá. Bàn luận về cải biến dân chủ với Đảng Cộng Sản chẳng khác gì yêu cầu cọp dữ thay bộ da của nó.

2.Không có Đảng Cộng Sản thì Trung Quốc đó sẽ làm thế nào ?

Trong khi Đảng Cộng Sản đang suy bại, người ta bất ngờ khám phá ra rằng, qua nhiều thập niên, tà linh phụ thể của Đảng cộng sản với những thủ đoạn lưu manh thiên biến vạn hóa đã tiêm nhiễm những yếu tố tà ác của nó vào trong mọi khía cạnh đời sống của người dân.

Khi Mao Trạch Đông chết, nhiều người đã khóc cay đắng trước tấm hình của Mao, tự hỏi “Không có Mao chủ tịch, Trung Quốc sẽ làm thế nào?” Mỉa mai thay, 20 năm sau, khi Đảng Cộng Sản đã mất tính hợp pháp để nắm chính quyền quốc gia của nó,Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã cho lan rộng một đợt tuyên truyền mới làm người dân một lần nữa lại tự hỏi một cách lo âu: “Nước Trung Hoa sẽ làm được gì nếu không có Đảng Cộng Sản?”

Trên thực tế, sự khống chế chính trị lan tràn khắp nơi của ĐCSTQ đã khắc sâu vào nền văn hóa hiện tại và tư tưởng người Trung Quốc đến nỗi ngay cả chuẩn mực mà người Trung Quốc đánh giá ĐCSTQ đều có dấu ấn của ĐCSTQ hoặc xuất phát từ ĐCSTQ. Nếu trong quá khứ ĐCSTQ khống chế dân chúng bằng cách tiêm nhiễm những yếu tố của nó vào họ, thì giờ đây ĐCSTQ đã đến lúc phải gặt hái những gì nó gieo mầm, bởi vì những điều thấm nhuần trong tâm trí người dân đã được tiêu hóa và hấp thụ vào từng tế bào của họ. Người dân suy nghĩ dựa theo lý luận của ĐCSTQ, và tự đặt mình vào vị trí của ĐCSTQ mà phán xét đúng sai. Nói về việc ĐCSTQ thảm sát các sinh viên biểu tình ngày 4/6/1989, có người bảo “Nếu tôi là Đặng Tiểu Bình tôi cũng sẽ dập tắt cuộc nổi loạn bằng xe tăng”. Trong cuộc đàn áp Pháp Luân Công, có người hùa theo rằng “Nếu tôi là Giang Trạch Dân, tôi cũng sẽ tiêu diệt Pháp Luân Công.” Về việc cấm tự do ngôn luận, có người bảo rằng “Nếu tôi là Đảng cộng sản tôi cũng làm như vậy.” Chân lý và lương tri không còn nữa, chỉ còn lại lô-gic của Đảng cộng sản. Đây là một trong những thủ đoạn độc ác và ghê tởm nhất của ĐCSTQ mà đã được ĐCSTQ sử dụng vì bản tính lưu manh của nó. Khi nào những độc tố tinh thần mà ĐCSTQ đã tiêm nhiễm vào vẫn còn trong đầu óc người ta, thì ĐCSTQ càng có cơ hội tiếp tục thâu đoạt năng lượng để duy trì sinh mạng lưu manh của nó.

“Nước Trung Quốc sẽ làm được gì nếu không có Đảng Cộng Sản?” Lối suy nghĩ này phù hợp chính xác với mục đích của ĐCSTQ là làm cho người dân suy luận theo lô-gic của nó.

Dân tộc Trung Hoa đã trải qua 5000 năm lịch sử văn minh của họ mà không có Đảng cộng sản. Thực tế, không một quốc gia nào trên thế giới lại ngừng tiến triển xã hội chỉ vì sự sụp đổ của một chế độ nào đó. Tuy nhiên sau hàng chục thập niên dưới sự thống trị của ĐCSTQ, người ta đã không còn nhận ra được sự thực này. Sự tuyên truyền lâu dài của ĐCSTQ đã rèn luyện người dân nghĩ Đảng như là mẹ đẻ của họ. Chính trị của ĐCSTQ có mặt ở khắp nơi đã khuất phục người ta, làm cho họ không thể nhận thức được cuộc sống không có Đảng cộng sản sẽ ra sao.

Không có Mao chủ tịch, Trung Quốc đã không đổ vỡ; vậy không có Đảng cộng sản thì nước Trung Hoa sụp đổ hay sao? !

3. Ai là nguồn thật sự gây rối loạn?

Rất nhiều người biết và không thích những hành vi lưu manh của Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ), và ghê tởm những thứ đấu tranh và dối trá của nó. Nhưng đồng thời họ lại sợ hãi những cuộc vận động chính trị của ĐCSTQ và những bạo động gây rối loạn, rồi sợ rằng sự rối loạn một lần nữa sẽ viếng thăm Trung Quốc. Bởi thế, mỗi khi ĐCSTQ hăm dọa người dân với chữ “rối loạn”; người dân liền im lặng chấp nhận sự thống trị của ĐCSTQ, cảm thấy bất lực khi đối diện với quyền lực chuyên chế của ĐCSTQ.

Trên thực tế, với hàng triệu quân đội và cảnh sát võ trang, ĐCSTQ là nguồn rối loạn thật sự. Những người dân thường không tài nào gây nên hoặc có khả năng khởi xướng rối loạn cho quốc gia. Chỉ có ĐCSTQ thoái hóa mới nhẫn tâm  mang đất nước đến rối loạn qua bất cứ dấu hiệu thay đổi nào. “Ổn định quan trọng hơn tất cả mọi thứ” và “Nhổ tận gốc mầm mống của tất cả các yếu tố nguyên nhân làm bất ổn định” — các khẩu hiệu này đã trở thành nền móng lý luận mà ĐCSTQ dùng để đàn áp người dân. Vậy ai là nguyên nhân lớn nhất tạo ra sự bất ổn định tại Trung Quốc? Chẳng phải là ĐCSTQ, một chính quyền chuyên dùng bạo lực? ĐCSTQ là chủ mưu của rối loạn, và sau đó đến lượt nó lại dùng chính sự rối loạn nó tạo ra ấy để ép buộc người dân. Những bọn lưu manh xưa nay đều làm như thế cả .

II. Phát triển kinh tế trở thành tế phẩm của Đảng Cộng Sản Trung Quốc

1. Lạm dụng danh nghiã để cướp đoạt những thành quả từ công khó nhọc của nhân dân

Đảng cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ) tự nhận “tính hợp pháp” của nó do từ sự phát triển kinh tế hơn 20 năm qua. Tuy nhiên trên thực tế sự phát triển này đã dần dần đạt được nhờ nhân dân Trung Quốc lao động, sau khi những gông cùm của ĐCSTQ được nới lỏng một chút, do đó sự phát triển kinh tế không liên quan gì đến công lao của chính ĐCSTQ. Dầu vậy, ĐCSTQ đã tuyên bố là sự phát triển kinh tế này là do thành tựu của chính nó, và yêu cầu người dân phải biết ơn Đảng, như thể là sẽ không có một phát triển nào nếu không có ĐCSTQ. Trong thực tế tất cả chúng ta đều biết rằng có nhiều quốc gia phi cộng sản, từ lâu đã đạt được việc tăng trưởng kinh tế nhanh chóng hơn nữa.

Những thể tháo gia đạt được huy chương vàng tại thế vận hội Olympic đã bị đòi hỏi phải cám ơn Đảng Cộng Sản. Đảng không ngần ngại sử dụng hình ảnh bày đặt “thể thao đại quốc ” để tự ca tụng mình. Trung Quốc đã trải qua nhiều khổ nạn trong bệnh dịch SARS, nhưng tờ Nhân Dân nhật báo lại nói rằng Trung Quốc đã chiến thắng vi khuẩn “dựa theo lý luận cơ bản, đường lối cơ bản, cương lĩnh cơ bản và kinh nghiệm cơ bản của Đảng”. Việc phóng vệ tinh Thần Châu 5 của Trung Quốc đã được thực hiện bởi các chuyên gia khoa học và kỹ thuật không gian, nhưng ĐCSTQ đã lấy đó làm bằng chứng để chứng minh rằng chỉ có ĐCSTQ mới có khả năng hướng dẫn người dân Trung Quốc bước vào hàng các cường quốc trên thế giới.  Sự kiện Trung Quốc làm chủ tổ chức Thế Vận Hội Olympic năm 2008, là thực ra các nước Tây phương ban cho Trung Quốc cái “cành Ô-liu” (biểu trưng của đề nghị hòa bình) để khuyến khích Trung Quốc cải thiện tình hình nhân quyền, nhưng ĐCSTQ dùng điều này để nâng cao những tuyên bố về tính hợp pháp của nó, và để dùng như một cái cớ để trấn áp người dân Trung Quốc. “Tiềm lực thị trường lớn mạnh” của Trung Quốc có được nhờ vào các nhà đầu tư ngoại quốc, bắt nguồn từ năng lực tiêu thụ của 1.3 tỷ  người dân của Trung Quốc. ĐCSTQ đã chiếm đoạt tiềm lực này, và rồi biến nó thành võ khí sắc bén dùng để làm áp lực các xã hội phương Tây phải hợp tác với sự thống trị của ĐCSTQ.

 Đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) qui tội tất cả những sự việc xấu vào các lực lượng phản động và các người có dụng tâm xấu làm, trong khi đó nhận những sự việc tốt về cho ban lãnh đạo của Đảng. ĐCSTQ sử dụng mỗi một thành quả để khiến cho việc tuyên bố về tính hợp pháp trong sự thống trị của nó có sức thuyết phục hơn. Ngay cả những việc làm sai mà ĐCSTQ phạm phải có thể được biến thành cái gì đó “tốt” để phục vụ các mục đích của nó. Ví dụ khi sự thật về vấn đề lan tràn khủng khiếp của bệnh AIDS không còn che dấu được nữa, ĐCSTQ đột nhiên chế tạo ra một bộ mặt mới. Chúng khéo léo vận chuyển bộ máy tuyên truyền, sử dụng tất cả mọi người từ minh tinh nổi tiếng đến Tổng bí thư Đảng để tô vẽ chân dung ĐCSTQ, kẻ thủ phạm đầu sỏ, thành người tiêu diệt bệnh AIDS, người thách đấu với bệnh tật của nhân loại, và như là một điều may mắn cho bệnh nhân. Trong việc giải quyết những vấn đề liên quan tới sống chết nghiêm trọng như vậy, tất cả những gì ĐCSTQ có thể nghĩ đến là làm thế nào mà sử dụng vấn đề đó để tự ca ngợi mình. Chỉ có ĐCSTQ mới có khả năng hành động nhẫn tâm, lưu manh chiếm đoạt và hoàn toàn không kể gì đến mạng sống con người.

2. Việc làm ngắn hạn gây nên bất lợi kinh tế

Đối diện nghiêm trọng với “nguy cơ về tính hợp pháp”, ĐCSTQ đã thực hiện các chính sách cải cách và mở cửa vào thập niên 80 để duy trì sự thống trị của nó. Háo hức thành công nhanh chóng đã đặt Trung Quốc vào một thế bất lợi mà những nhà kinh tế học gọi là “tai họa cho kẻ đến muộn”.

Những khái niệm “tai họa cho kẻ đến muộn” hoặc là “lợi thế cho kẻ đến muộn”, mà một số các học giả đã gọi, là chỉ về sự kiện của các quốc gia lạc hậu, có nghĩa là sự phát triển được khởi công muộn, có thể bắt chước các nước tiến bộ trước, trong nhiều mặt. Có hai hình thức bắt chước: bắt chước hệ thống xã hội và bắt chước các mô hình kỹ thuật và công nghiệp. Thông thường bắt chước hệ thống xã hội là khó, vì cải tổ hệ thống có thể gây nguy hiểm đến quyền lợi tương lai của một số tập đoànchính trị hay xã hội. Vì vậy các quốc gia lạc hậu có khuynh hướng bắt chước kỹ thuật của các nước tiên tiến. Mặc dầu bắt chước kỹ thuật có thể tạo nên phát triển kinh tế nhất thời, nhưng nó có thể dẫn đến nhiều may rủi tiềm ẩn hoặc ngay cả thất bại đối với mục tiêu phát triển dài hạn.

Đảng cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ) chính là đang đi theo con đường “tai họa cho kẻ đến muộn”, một con đường thất bại. Qua hai thập niên vừa rồi, “bắt chước kỹ thuật” của Trung Quốc đã thật sự dẫn đến một số thành tích, mà ĐCSTQ đã chiếm vềphần mình, hầu để chứng minh “tính hợp pháp” của nó, và tiếp tục ngăn cản cải cách chính trị mà có lẽ sẽ làm hại tới lợi ích riêng của ĐCSTQ. Vì vậy, lợi ích lâu dài của quốc gia đã bị hy sinh.

3. Cái giá thảm thương phải trả cho sự phát triển kinh tế của Đảng Cộng Sản Trung Quốc

Trong khi Đảng Cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ) không ngừng khoe khoang về tiến bộ kinh tế của mình, thì trên thực tế, kinh tế Trung Quốc ngày nay sắp hạng trên thế giới còn thấp hơn thời của vua Càn Long (1711-1799) trong triều đại nhà Thanh. Trong thời vua Càn Long, GDP (Gross Domestic Products hay Tổng sản lượng quốc nội) của Trung Quốc được coi như bằng 51% của tổng số trên thế giới. Khi Tôn Trung Sơn thành lập nước Cộng hòa Trung Quốc (thời Quốc Dân Đảng) vào năm 1911, GDP của Trung Quốc bằng được khoảng 27% của tổng số thế giới. Vào 1923, tỷ lệ phần trăm giảm xuống, nhưng vẫn còn được 12%. Đến 1949, khi ĐCSTQ nắm chính quyền, tỷ lệ xuống đến 5.7%, nhưng đến 2003, GDP của Trung Quốc giảm xuống ít hơn 4% tổng số của thế giới. Tương phản với sự tụt dốc kinh tế trong thời kỳ Quốc Dân Đảng vì phải trải qua nhiều chục năm chiến tranh, thì sự tụt dốc kinh tế liên tục trong thời kỳ ĐCSTQ nắm quyền lại xảy ra trong thời hòa bình.

Ngày nay, để hợp pháp hóa quyền lực của mình, ĐCSTQ hăm hở muốn đạt thành công nhanh chóng và những lợi ích tức thời. Sự cải cách kinh tế khập khiễng mà ĐCSTQ đã phát động hầu để bảo vệ lợi ích riêng tư cho chính nó, là một tổn thất lớn choquốc gia. Sự phát triển kinh tế nhanh chóng trong 20 năm qua, tới một phạm vi rộng, được xây dựng trên sự lạm dụng hoặc ngay cả lãng phí các nguồn tài nguyên, và đã đạt được với cái giá của sự tàn phá môi trường. Một phần lớn GDP của Trung Quốc đạt được bằng cách hy sinh những cơ hội của các thế hệ tương lai. Vào 2003, Trung Quốc đã đóng góp dưới 4% cho kinh tế thế giới, trong khi đó mức tiêu thụ về sắt, xi măng và những vật dụng khác lên đến 1/3 tổng số tiêu thụ toàn cầu [3].

Từ thập niên 1980 đến cuối thập niên 1990, những vùng đất bị bỏ hoang ở Trung Quốc tăng từ 1.000 đến 2.460 ki-lô mét vuông (386 đến 950 dặm vuông). Đất trồng trọt cho mỗi đầu người cũng giảm sút từ 2 mẫu vào năm 1980 đến 1,43 mẫu vào năm2003 [4]. Phong trào lớn mạnh thu hồi/giải tỏa đất đai rầm rộ để phát triển, đã làm Trung Quốc mất 100 triệu mẫu đất để trồng trọt trong vòng chỉ vài năm. Tuy nhiên, thực tế tỷ lệ đất thu hồi được đem sử dụng chỉ là 43%. Hiện thời, tổng số lượng nước phế thải là 43,95 triệu tấn, vượt quá 82% dung lượng của môi trường. Trong bảy hệ thống sông ngòi chính, thì 40,9% lượng nước không thích hợp để dùng cho người và súc vật uống. 75% mương hồ bị ô nhiễm nên đã sinh ra các mức độ phú dưỡngrong rêu, chất bẩn trong nước khác nhau[5]. Chưa bao giờ sự xung đột giữa người và sự Tự Nhiên tại Trung Quốc lại căng thẳng như ngày nay. Trung Quốc hay thế giới không tài nào cưỡng lại sự phát triển không lành mạnh như vậy. Bị che mắt bởi hào nhoáng bề mặt của các cao ốc và biệt thự, người dân không biết đến sự khủng hoảng sinh thái đang treo lơ lửng. Tuy nhiên, hễ đến lúc luật tự nhiên trừng phạt nhân loại, nó sẽ mang đến những hậu quả thảm khốc cho nước Trung Hoa.

So sánh với nước Nga từ sau khi rũ bỏ chủ nghiã cộng sản, đã thực hiện cải cách kinh tế và chính trị cùng một lúc. Sau khi trải qua một khoảng thời gian khó khăn ngắn, Nga bắt đầu phát triển nhanh chóng. Từ năm 1999 đến năm 2003, GDP của Nga đã tăng tổng số được 29,9%. Mức sống người dân cũng được cải thiện đáng kể. Giới thương mại Tây phương đã không những bắt đầu bàn luận “hiện tượng kinh tế Nga”, mà còn bắt đầu đầu tư vào Nga —một thị trường nóng hổi mới— trên phạm vi rộng. Thứ hạng của Nga trong các quốc gia hấp dẫn nhất để đầu tư, đã nhảy từ vị trí thứ 17 vào năm 2002 đến vị trí thứ 8 trong năm 2003, lần đầu tiên trở thành một trong 10 nước hấp dẫn nhất trên thế giới để đầu tư.

Ngay cả Ấn độ, một quốc gia mà trong tư tưởng của hầu hết người dân Trung Quốc là nghèo nàn và đầy những xung đột sắc tộc, đã hưởng được sự phát triển vượt bực và đạt được thành tựu phát triển kinh tế với tỷ lệ là 7- 8% hằng năm từ khi cải cách kinh tế vào năm 1991. Ấn Độ có hệ thống pháp luật khá đầy đủ về kinh tế thị trường, một hệ thống tài chính dồi dào, một hệ thống dân chủ phát triển tốt, tâm thái người dân ổn định. Quốc gia này đã được cộng đồng quốc tế công nhận là một nước có tiềm lực phát triển lớn.

Tương phản lại, ĐCSTQ, chỉ tham gia vào cải cách kinh tế mà không có cải cách chính trị. Bộ mặt kinh tế giả tạo nở rộ nhất thời đã cản trở “sự phát triển các hệ thống xã hội” tự nhiên. Chính sự cải cách không đầy đủ này đã gia tăng sự mất cân bằng trong xã hội Trung Quốc và làm các mâu thuẫn xã hội càng thêm sâu sắc. Những lợi tức tài chính mà người dân đạt được lại không được các hệ thống xã hội ổn định bảo vệ. Hơn thế nữa, trong quá trình tư hữu hóa các tài sản quốc gia, những kẻ nắm quyền hành trong ĐCSTQ đã lợi dụng quyền thế để nhét đầy vào túi riêng của mình.

4. Đảng Cộng Sản Trung Quốc không ngừng gian lận nông dân

Đảng cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ) dựa vào nông dân để đoạt quyền lực. Những người nông dân trong các vùng Đảng Cộng Sản thống trị, đã cống hiến tất cả những gì họ sở hữu cho ĐCSTQ từ lúc nó mới phôi thai. Nhưng sau khi ĐCSTQ nắm quyền lực quốc gia, những người nông dân đã phải trải qua một sự phân biệt đối xử trầm trọng.

Sau khi ĐCSTQ thành lập chính quyền, nó đã sắp xếp một hệ thống vô cùng bất công: đó là hệ thống đăng ký cư trú. Hệ thống này ép buộc chia người dân thành 2 loại: nông dân và dân thành thị, tạo ra một sự chia rẽ vô lý và chống đối trong nội bộquốc gia. Nông dân không có bảo hiểm sức khỏe, không có tiền trợ cấp thất nghiệp, không có tiền hưu trí và không được vay tiền ngân hàng. Người nông dân không những thuộc giai cấp bần cùng nhất tại Trung Quốc, mà cũng là giai cấp bị đánh thuế nặng nhất. Nông dân cần phải trả tiền cho quỹ tiết kiệm bắt buộc, quỹ trợ cấp xã hội, quỹ quản lý hành chánh, lệ phí giáo dục bổ xung, lệ phí kiểm soát sinh đẻ, lệ phí tổ chức và huấn luyện quân đội, lệ phí xây đường quốc gia và lệ phí bồi thường quân sự. Bên cạnh tất cả lệ phí này, họ còn phải bán một phần thóc lúa mà họ đã sản xuất theo một tỷ lệ cố định cho nhà nước như là một yêu cầu bắt buộc, và phải trả thuế nông nghiệp, thuế đất, thuế sản xuất vùng đặc biệt, thuế giết mổ và còn thêm vào nhiều thuế khác. Ngược lại dân cư thành thị không phải trả thuế và những lệ phí này.

Vào đầu năm 2004, Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã phát hành “hồ sơ số 1” nói rằng nông thôn Trung Quốc đang đối diện với tình thế khó khăn nhất từ khi bắt đầu cải cách kinh tế vào năm 1978. Lợi tức của hầu hết nông dân đã không tăng hoặc ngay cả còn xuống dốc. Họ càng nghèo hơn, và sự cách biệt lợi tức giữa dân nông thôn và dân thành thị tiếp tục nới rộng ra.

Trong một lâm trường ở phía đông tỉnh Tứ Xuyên, nhà chức trách cấp trên đã chi ra 500 ngàn đồng yuan (khoảng 60.500 đô la Mỹ) cho một chương trình trồng lại rừng. Những người lãnh đạo lâm trường trước hết bỏ túi 200 ngàn đồng yuan, rồi mới phân phối 300 ngàn đồng yuan còn lại để trồng rừng. Nhưng mỗi khi qua mỗi một cấp quản lý, số tiền lại bị mất dần, cuối cùng chỉ còn lại một ít dành cho những nông dân trong vùng, những người mà thật sự trồng rừng. Chính quyền không cần phải lo lắng rằng những người nông dân sẽ từ chối làm việc vì ngân khoản không đủ. Những nông dân này quá nghèo đến nỗi họ phải làm việc với tiền công rất ít. Đây là một trong những lý do mà sản phẩm sản xuất tại Trung Quốc “made in China” lại rất rẻ.

 5. Dùng lợi ích kinh tế để uy hiếp các nước Tây phương

Nhiều người tưởng rằng buôn bán với Trung Quốc sẽ thúc đẩy nhân quyền, tự do ngôn luận và cải cách dân chủ cho Trung Quốc. Sau hơn một thập niên, điều này đã được chứng minh rằng chỉ là mơ tưởng. Điển hình nhất chính là nguyên tắc làm ăn buôn bán ở Trung Quốc và các nước Tây phương. Sự công bằng và sáng tỏ tại các nước Tây phương được thay thế bởi những quan hệ riêng cá nhân, hối lộ và biển thủ ở Trung Quốc. Nhiều công ty Tây phương đã trở thành thủ phạm hàng đầu vì đã làm trầm trọng thêm sự thối nát của Trung Quốc. Một số công ty ngay cả còn giúp ĐCSTQ dấu diếm các vi phạm nhân quyền và đàn áp chính dân chúng của nó.

Đảng cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ) hành động như Mafia bằng cách chơi ván bài kinh tế trong chính sách đối ngoại. Hợp đồng chế tạo máy bay cho Trung Quốc sẽ được giao cho nước Pháp hay nước Mỹ thì còn tùy thuộc vào quốc gia nào có thể ngậm miệng về vấn đề nhân quyền của ĐCSTQ. Nhiều thương gia Tây phương và chính trị gia bị dẫn dắt và khống chế bởi lợi ích kinh tế từ Trung Quốc. Một số công ty kỹ thuật về thông tin từ Bắc Mỹ đã cung cấp các sản phẩm đặc biệt cho ĐCSTQ để ngăn chặn Internet. Để đi vào thị trường Trung Quốc, một số website Internet đã đồng ý tự kiểm duyệt và lọc đi tin tức mà ĐCSTQ không thích.

Căn cứ trên thống kê từ Bộ Thương Mại của Trung Quốc, vào cuối tháng 4 năm 2004, Trung Quốc đã thống kê được tổng cộng 990 tỉ đô la Mỹ, tiền đầu tư của ngoại quốc trong nhiều hợp đồng khác nhau. Đầu tư từ tiền vốn ngoại quốc đã có tác dụng ‘truyền máu’ mạnh mẽ cho nền kinh tế của ĐCSTQ. Nhưng trong quá trình ‘truyền máu’ này, sự đầu tư của ngoại quốc đã không mang các khái niệm của dân chủ, tự do và nhân quyền làm thành nguyên tắc cơ bản cho người dân Trung Quốc. Thay vào đó ĐCSTQ đã lợi dụng sự hợp tác “vô điều kiện” từ phía các nhà đầu tư ngoại quốc, chính quyền ngoại quốc và sự xu nịnh của vài quốc gia để tuyên truyền cho sự thống trị tư bản. Bằng cách lợi dụng sự thịnh vượng kinh tế trên bề mặt của Trung Quốc, các viên chức ĐCSTQ đã trở nên cực kỳ lão luyện trong việc cấu kết với các nhà buôn bán đầu tư để phân chia tài sản quốc gia và ngăn chặn cải cách chính trị.

III. Kỹ thuật tẩy não của Đảng Cộng Sản Trung Quốc: Từ “thô sơ” đến “tinh  xảo”

Người ta thường nghe nói rằng: “Tôi biết trong quá khứ Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) hay dối trá, nhưng lần này nó nói sự thật”. Mỉa mai thay, khi hồi tưởng lại, đây là câu mà người dân nói mỗi lần ĐCSTQ tạo ra sai lầm nghiêm trọng trong quá khứ. Điều này phản ảnh khả năng mà ĐCSTQ đạt được qua nhiều thập niên là dùng dối trá để lường gạt người dân.

Người ta đã thành lập một số kháng cự để chống lại những lời hoang ngôn quá mức của ĐCSTQ. Để đáp lại, sự tuyên truyền và bịa đặt của ĐCSTQ đã trở nên “tinh xảo” và “chuyên nghiệp” hơn. Tiến bộ từ những tuyên truyền theo kiểu khẩu hiệu trong quá khứ, những lời dối trá của Đảng cộng sản đã trở nên “trau chuốt” và “tinh xảo” hơn. Đặc biệt dưới tình trạng bưng bít tin tức mà ĐCSTQ đã dựng lên chung quanh Trung Quốc, nó bịa đặt những điều dựa trên một phần sự kiện để đánh lạc hướng công chúng, những điều mà ngay cả còn độc hại và dối trá hơn là những chuyện bịa đặt thông thường.

Chinascope (Trung Quốc Tụ Tiêu), một tờ báo tiếng Anh, có một bài viết vào tháng 10 năm 2004 phân tích những trường hợp mà ĐCSTQ đã sử dụng những cách thức chế tạo lời dối trá để che đậy sự thật. Khi vụ SARS bùng nổ tại Trung Quốc đại lụcvào năm 2003, thế giới bên ngoài nghi ngờ Trung Quốc dấu diếm tin tức về bệnh dịch, tuy rằng ĐCSTQ đã nhiều lần chối bỏ để không thừa nhận nó. Để tìm hiểu ĐCSTQ có thành thật trong việc báo cáo bệnh SARS hay không, tác giả của bài viết đã đọc tất cả trên 400 báo cáo về vụ SARS từ lúc khởi đầu cho đến tháng 4 năm 2003 trên website Tân Hoa.

Những báo cáo này nói rằng: Ngay lúc SARS xuất hiện, chính quyền tại trung ương và các cấp địa phương đã huy động các chuyên gia kịp thời chữa bệnh cho các bệnh nhân và sau đó họ đã lành bệnh và được xuất viện. Đối phó với các thành phần gây rối kích động dân chúng đi mua sắm hàng hóa tích trữ để tránh đi ra ngoài phòng khi bệnh dịch lan tràn, chính quyền đã lập tức chận đứng tin đồn, và xúc tiến ngăn ngừa tin đồn lan rộng, vì vậy trật tự xã hội đã được ổn định trở lại. Mặc dầu một số ít các lực lượng chống Trung Quốc vẫn khăng khăng nghi ngờ chính quyền Trung Quốc che dấu sự thật, hầu hết các quốc gia khác và dân chúng không tin vào các tin đồn này. Hội chợ Giao dịch Thương mại Quảng Châu sắp tới sẽ có sự tham gia lớn nhất chưa từng có của các doanh nghiệp trên khắp thế giới. Khách du lịch từ nước ng̣̣oài khẳng định rằng du lịch đến Trung Quốc rất an toàn. Đặc biệt, các chuyên gia từ Hội Y Tế Thế Giới – WHO [những người đã bị lường gạt bởi ĐCSTQ], đã công bốrằng chính quyền Trung Quốc đã sẵn sàng cộng tác, và có biện pháp thích đáng để đối phó với SARS, vì vậy sẽ không có vấn đề gì. Các chuyên gia đã phê chuẩn cho tỉnh Quảng Đông được tiến hành mở Hội chợ (sau hơn 20 ngày trì hoãn) sau khi đã khảo sát vùng này.

Trên 400 bài viết này đã cho tác giả một ấn tượng rằng ĐCSTQ rất trung thực trong suốt bốn tháng này, đã hành động một cách có trách nhiệm để bảo vệ sức khỏe dân chúng, và đã làm cho mọi người tin rằng ĐCSTQ đã không che dấu bất cứ điều gì. Tuy nhiên, vào 20-4-2003, Văn Phòng Thông Tin của Hội Đồng Quốc Gia (Quốc vụ viện Tân văn) đã công bố trong buổi họp báo của họ rằng SARS đã thật sự lan tràn tại Trung Quốc, và như vậy thừa nhận gián tiếp rằng chính quyền đã che đậy bệnh dịch. Chỉ khi đó tác giả này mới thấy sự thật và hiểu các thủ đoạn lưu manh, lường gạt và “tiến cùng thời gian” mà ĐCSTQ đã sử dụng.

Trong cuộc tổng tuyển cử ở Đài loan, Đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) sử dụng cùng một chiến thuật “trau chuốt” và “tinh xảo” như trên, để tung tin rằng bầu cử tổng thống sẽ dẫn đến các tai họa lớn như là tỷ lệ tự sát lên cao, thị trường chứng khoán sụp đổ, tăng trưởng “bệnh kỳ quặc” hay bệnh tâm thần, di dân ra khỏi đảo, gia đình bất hòa, thái độ bất cần đời, thị trường chứng khoán suy thoái, bắn giết bừa bãi, biểu tình và chống đối, bao vây dinh thự tổng thống, xã hội mất an ninh, trò hề chính trị, v.v… ĐCSTQ đã nhét đầy vào đầu người dân Trung Quốc Đại Lục với những luận điệu này từng ngày trong sự cố gắng hướng dẫn người dân để họ tin rằng tất cả những tai họa này sẽ là kết quả tệ hại của cuộc bầu cử, và Trung Quốc khôngbao giờ nên tổ chức bầu cử dân chủ.

Về vấn đề Pháp Luân Công, ĐCSTQ đem ra ngay cả các cách thức kỹ thuật tinh xảo hơn với lừa gạt mà được chế tạo để chụp mũ Pháp Luân Công. Những màn biểu diễn của ĐCSTQ nối tiếp nhau mà đến. Thảo nào mà quá nhiều người dân Trung Quốc bị lừa gạt. Sự tuyên truyền lưu manh của ĐCSTQ quá dối trá đến nỗi nạn nhân của nó đã mù quáng tin vào những lời dối trá và nghĩ rằng họ đã nắm chắc sự thật.

Sự tuyên truyền tẩy não của Đảng cộng sản Trung Quốc qua nhiều thập niên trong quá khứ đã biến đổi trở nên “tinh xảo” và “tỉ mỉ” trong việc lường gạt dối trá, mà là sự bành trướng tự nhiên của bản chất lưu manh.

IV. Ngụy trang nhân quyền của Đảng Cộng Sản Trung Quốc

1. Từ tranh giành dân chủ để đoạt quyền lực đến thống trị độc tài và ngụy trang nhân quyền

“Trong một quốc gia dân chủ, chủ quyền nên nằm trong tay người dân, đây là sự việc đi theo nguyên lý của Trời Đất. Nếu một quốc gia tuyên bố dân chủ, mà chủ quyền không thuộc về người dân, điều đó nhất định là không đi đúng đường, và chỉ có thể được coi là lệch hướng, và quốc gia này không phải là một quốc gia dân chủ… làm sao có được dân chủ mà không chấm dứt sự cai trị của Đảng và không có một cuộc bầu cử phổ thông? Trả lại nhân quyền cho nhân dân!”

Có phải trích dẫn trên là giọng điệu từ một bài viết của “kẻ thù nước ngoài” để đả kích Đảng cộng sản Trung Quốc chăng? Thực ra, tuyên bố trên là từ Tân Hoa Nhật Báo, tờ báo chính thức của ĐCSTQ, đăng ngày 27-9-1945.

Đảng cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ) từng tuyên bố ầm ỹ phải “tổng tuyển cử” và đòi hỏi “trả lại quyền lợi cho người dân”, nay lại xem “tổng tuyển cử” như là một sự cấm đoán, bởi vì nó đang nắm quyền lực. Những người dân được mệnh danh là “cai quản và làm chủ đất nước” không có bất cứ quyền hạn nào để tự quyết định cho chính họ. Không có ngôn từ nào thích hợp để mô tả bản tính lưu manh của Đảng Cộng Sản.

Nếu bạn cho rằng những gì đã xong rồi thì hãy để cho qua, và tà giáo Đảng cộng sản mà đã từng gieo rắc giết chóc và thống trị quốc gia bằng dối trá, nay sẽ lại tự cải tổ, đi theo thiện lành, và sẵn lòng “trả lại quyền lợi cho nhân dân”, bạn lại lầm to rồi.Chúng ta hãy nghe tờ Nhân Dân nhật báo, cái loa chính của ĐCSTQ đã nói vào ngày 23/10/2004, 60 năm sau lời tuyên bố trước công chúng đã được trích dẫn bên trên: “Kiểm soát chặt chẽ hình thái ý thức là nhu cầu căn bản cho cơ sở tư tưởng và nền tảng chính trị để củng cố sự chấp chính của Đảng”.

Gần đây nhất, Đảng cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ) đã đưa ra cái gọi là “chủ nghĩa ba không”[6], mà cái ‘không‘ thứ nhất là “phát triển mà không tranh luận”. “Phát triển” chỉ là giả tạo, nhưng “không bàn luận” được nhấn mạnh để trở thành “một tiếng nói, một hội trường”, mới chính là mục đích thật sự của Đảng cộng sản Trung Quốc.

Khi Giang Trạch Dân được phỏng vấn bởi một phóng viên nổi tiếng, Mike Wallace, của đài CBS vào năm 2000, về vấn đề tại sao Trung Quốc không tổ chức bầu cử dân chủ, Giang đã trả lời: “Người Trung Quốc học thức quá kém”.

Tuy nhiên, ngay từ ngày 25/2/1939, ĐCSTQ đã kêu gào trong tờ Tân Hoa nhật báo rằng “Họ (Quốc Dân Đảng) nghĩ rằng sự thực hiện nền chính trị dân chủ tại Trung Quốc không phải ngày nay, mà là những năm về sau. Họ hy vọng rằng vấn đề chính trị dân chủ nên đợi đến lúc trình độ học vấn và sự hiểu biết của người dân Trung Quốc được nâng lên ngang với các nước dân chủ của giai cấp tư sản ở Âu châu và Mỹ châu… nhưng, chỉ ở dưới chế độ dân chủ thì mới có thể giáo dục và huấn luyện dân chúng dễ dàng hơn”.

Sự khác biệt trong cách giả đạo đức giữa những gì Tân Hoa nhật báo đã nói vào năm 1939 và những gì Giang Trạch Dân nói vào năm 2000 đã miêu tả linh động sự thật về bộ mặt lưu manh của Đảng cộng sản Trung Quốc.

Sau vụ Tàn Sát Thiên An Môn vào năm 1989, ĐCSTQ lại đứng sắp hạng trên khán đài thế giới với một thành tích nổi tiếng về vi phạm nhân quyền trầm trọng. Lịch sử đã cho ĐCSTQ một cơ hội chọn lựa: con đường thứ nhất là tôn trọng người dân củamình, và thực sự cải thiện nhân quyền, còn con đường thứ hai là cứ tiếp tục chà đạp nhân quyền bên trong Trung Quốc trong khi giả vờ với thế giới bên ngoài là tôn trọng nhân quyền để trốn tránh sự lên án của quốc tế.

Bất hạnh thay, Đảng cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ), luôn luôn giữ bản tính lưu manh, đã chọn con đường thứ hai mà không mảy may do dự. Nó đã tập họp và duy trì một số lớn bọn lưu manh nhưng có tài trong các lãnh vực khoa học và tôn giáo, và đặc biệt chỉ dẫn cho họ dựng lên những tuyên truyền giả dối tại hải ngoại, để thổi phồng lên các tiến bộ về nhân quyền của ĐCSTQ. Nó bịa đặt một loạt những nhân quyền ngụy biện như “quyền sinh tồn”; hoặc là “quyền ấm no” (lý lẽ biện hộ như sau:Khi người ta đói khát thì không thể có quyền lên tiếng hay sao? Ngay cả khi những người đói khát không thể lên tiếng được, vậy những người ăn uống no đủ cũng không thể lên tiếng cho những người đói khát hay sao?) ĐCSTQ vẫn cố gắng lừa gạt người dân Trung Quốc và các nước dân chủ Tây phương bằng cách chơi các ván bài về nhân quyền, ngay cả còn trắng trợn tuyên bố rằng “hiện nay là thời kỳ tốt nhất về nhân quyền của Trung Quốc”.

Nghị quyết số 35 của Hiến pháp Trung Quốc có qui định rằng: người dân của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc được tự do phát biểu, xuất bản, nhóm họp, hội đoàn, biểu tình, và diễn hành. Đảng cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ) chỉ đơn giản chơi chữ mà thôi. Dưới sự thống trị của ĐCSTQ, vô số công dân bị tước đoạt quyền tự do tín ngưỡng, ngôn luận, xuất bản, hội họp và biện hộ cho quyền lợi. ĐCSTQ còn ra lệnh rằng việc đệ đơn thỉnh cầu lên cấp trên của một số đoàn thể nhất định cũng bị xem là bất hợp pháp. Hơn một lần vào năm 2004, một số tập thể thường dân đệ đơn xin diễn hành tại Bắc Kinh. Thay vì cho phép, chính phủ lại bắt giam những người đệ đơn. Chính sách “một quốc gia, hai chế độ” áp dụng cho Hồng Kông được phê chuẩn bởi hiến pháp của ĐCSTQ đều là trò lừa bịp. ĐCSTQ nói rằng sẽ không có thay đổi tại Hồng Kông trong vòng 50 năm, tuy nhiên nó đã cố gắng đổi hai chế độ thành một bằng cách cố tình thông qua một luật độc tài tà ác, là Nghị Quyết số 23, chỉvỏn vẹn trong vòng 5 năm kể từ khi Hồng Kông được trả về cho Trung Quốc [7].

Một mánh khóe mới thật nham hiểm được tận dụng bởi Đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) là giả vờ “nới lỏng tự do ngôn luận” để che lấp sự theo dõi và khống chế chặt chẽ đại quy mô của nó. Người Trung Quốc ngày nay có vẻ nói lên ý nghĩ củamình một cách tự do hơn, bên cạnh đó, mạng điện báo Internet khiến cho tin tức lan rộng nhanh hơn. Như thế ĐCSTQ tuyên bố rằng bây giờ nó cho phép tự do ngôn luận; có rất nhiều người tin theo điều này. Nhưng đây chỉ là một biểu hiện giả tạo. Không phải Đảng Cộng Sản trở nên tốt lành, mà là Đảng không thể ngăn chặn sự phát triển xã hội và tiến bộ kỹ thuật. Chúng ta hãy xem xét ĐCSTQ đang đóng vai trò gì trong khía cạnh của mạng Internet: nó phong tỏa các website, gạn lọc tin tức, theo dõi phòng chat (nói chuyện qua máy điện toán), kiểm soát email (thư điện toán), và rồi buộc tội những người sử dụng mạng điện báo. Mỗi một điều Đảng cộng sản làm đều hoàn toàn ngược lại với trào lưu tiến bộ. Ngày nay, với sự giúp đỡ của các nhà tư bản mà không quan tâm đến nhân quyền và lương tri, cảnh sát ĐCSTQ đã được trang bị những máy móc kỹ thuật cao để có thể theo dõi, từ bên trong xe tuần tra, mọi hành động của những người dùng Internet. Khi chúng ta nhìn vào sự suy đồi của ĐCSTQ —phạm vào những hành vi tà ác giữa thanh thiên bạch nhật— trong bối cảnh của phong trào toàn cầu hướng về tự do dân chủ, làm thế nào mà chúng ta có thể mong rằng nó có tiến bộ trong nhân quyền? Chính ĐCSTQ đã nói tất cả: “Nó nới lỏng bên ngoài nhưng thắt chặt bên trong”. Bản tính lưu manh của Đảng cộng sản không bao giờ thay đổi.

Để tạo nên một hình ảnh tốt đẹp cho chính mình tại Ủy Ban Liên Hiệp Quốc về nhân quyền, năm 2004 ĐCSTQ đã dàn cảnh một loạt các hoạt động trừng phạt nghiêm khắc những người vi phạm nhân quyền. Tuy nhiên, sự kiện này chỉ là dành riêng chocon mắt quan sát của những người ngoại quốc mà thôi, và không có thực chất. Bởi vì kẻ chà đạp nhân quyền lớn nhất tại Trung Quốc là chính Đảng cộng sản Trung Quốc, và cựu Tổng bí thư Giang Trạch Dân, cựu bí thư Ủy ban Pháp Lý và Chính Trị Lỗ Cán, bộ trưởng Chu Vĩnh Khang và phó bộ trưởng Lưu Kinh của Bộ Công An. Sự trình diễn của chúng về trừng phạt những kẻ vi phạm nhân quyền cũng giống như một tên ăn cắp đang hò hét: “ Bớ người ta, bắt thằng ăn cắp!”.

Tương tự như  hành động của một tên hiếp dâm hàng loạt là, khi còn có thể trốn khỏi tầm quan sát của công chúng, hắn thông thường tấn công 10 cô gái trong một ngày. Sau đó, có quá đông người chung quanh nên hắn chỉ tấn công một cô gái trước đám đông. Có thể nói rằng tên hiếp dâm đã thay đổi tốt hơn hay sao? Từ việc hắn tấn công sau lưng cho đến việc cưỡng hiếp trước công chúng chỉ chứng tỏ rằng tên vô lại này thật còn đê tiện và trơ tráo hơn trước. Bản tính của tên hiếp dâm không thay đổi chút nào cả. Những gì thay đổi chỉ là hoàn cảnh đã không còn dễ dàng để cho hắn thực hành tội ác nữa.

Đảng cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ) cũng chỉ giống như tên lưu manh hiếp dâm hàng loạt đó. Bản tánh độc tài của ĐCSTQ và bản năng sợ hãi về mất quyền lực đã quyết định rằng nó sẽ không tôn trọng quyền lợi của người dân. Nhân lực, nguồn vật chất, và các nguồn tài chính dùng để ngụy trang nhân quyền của ĐCSTQ đã vượt quá xa các nỗ lực của nó trong việc cải thiện thật sự về nhân quyền. Đảng cộng sản lưu manh tàn phá, giết chóc bừa bãi ở khắp nơi trên đất Trung Hoa, điều này là nỗi bất hạnh lớn nhất cho người dân Trung Quốc.

2. Lợi dụng thủ đoạn “Luật pháp”, “ăn mặc Âu phục” để giở trò lưu manh.

Để bảo vệ lợi ích riêng của những tập đoàn có đặc quyền, một mặt Đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) xé tan ngụy trang cũ của chúng, hoàn toàn bỏ bê công nhân, nông dân, và dân chúng, mặt khác lại gia tăng các thủ đoạn lưu manh và dối trá càng ngày càng nhiều đến nỗi tiếng xấu về vi phạm nhân quyền của ĐCSTQ đã bị phơi bày ra cộng đồng quốc tế. ĐCSTQ đã sử dụng những danh từ quen thuộc như là “cai trị trong vòng luật pháp ”, “thị trường”, “vì dân”, và “cải cách”,v.v. để làm lẫn lộntâm trí người ta. Bản tánh tà ác lưu manh của Đảng cộng sản Trung Quốc không hề thay đổi dù có tự khoác lên mình “bộ Âu phục” [tức là cái vỏ văn minh]. Hình ảnh như vậy chỉ càng đánh lạc hướng người dân hơn là khi ĐCSTQ khoác “bộ y phục của Mao” [theo lý thuyết của Mao]. Trong tác phẩm Trại gia súc của George Orwell (xuất bản năm 1945), các con heo học cách đứng và đi bằng hai chân. Tài nghệ mới có này đã tạo bộ mặt mới cho con heo, nhưng nó không thay đổi được bản tính heo củanó.

       Tạo ra luật lệ và qui định mà vi phạm Hiến pháp Trung Quốc

Luật pháp và những qui định trái với Hiến pháp đã được truyền xuống tới các nhân viên thực thi pháp luật tại nhiều tầng cấp. Họ lấy lý do như “căn cứ vào pháp luật” mà cản trở những nỗ lực của dân chúng trong việc chấm dứt cuộc đàn áp, lấy lại tự do và duy hộ nhân quyền.

        Giải quyết vấn đề phichính trị bằng các thủ đoạn chính trị

Một vấn đề xã hội bình thường sẽ được thổi phồng lên ngang hàng với “tranh đoạt quần chúng với Đảng”, hoặc “mất Đảng thì mất nước”, hay “nổi loạn”, “lực lượng thù địch”. Đảng cộng sản Trung Quốc cố tình chính trị hóa các vấn đề phi chính trị để có thể sử dụng các cuộc vận động chính trị như một công cụ tuyên truyền để kích động lòng thù hận của dân chúng.

        Vấn đề chính trị được giải quyết bằng các thủ đoạn phichính trị

Mánh khóe mới nhất của Đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) dùng để tấn công các công dân ủng hộ dân chủ và các phần tử trí thức có tư tưởng độc lập, là lập ra “những cái bẫy” để cầm tù những người này. Những “cái bẫy” như vậy bao gồm tạo ra các tội trạng dân sự giả tạo như là tội mãi dâm và trốn thuế. Kẻ tấn công cố giữ không làm ồn để tránh sự chỉ trích của các nhóm bên ngoài. Những tội này, đủ để hủy hoại thanh danh của người bị tố cáo, và cũng được dùng để làm nhục nạn nhân trước công chúng.

Nếu như phải nói rằng bản tính lưu manh của Đảng cộng sản Trung Quốc có biến đổi, thì đó là nó đổi thành càng ngày càng đáng sỉ nhục hơn và càng không có nhân tính.

3. Giam giữ hơn một tỉ người dân làm con tin, dở trò “văn hóa lưu manh”.

Hãy tưởng tượng một tên tội phạm dâm loạn đột nhập vào nhà và cưỡng hiếp một cô con gái. Trong phiên tòa xử, tên tội phạm này tự bào chữa cho mình rằng hắn không giết nạn nhân; hắn chỉ cưỡng hiếp cô ta thôi. Bởi vì giết người mang tội nặng hơn tội hiếp dâm, hắn tranh cãi rằng hắn vô tội và nên được phóng thích ngay lập tức. Hắn nói rằng người ta cũng nên khen ngợi hắn vì hắn chỉ có cưỡng hiếp nhưng không giết người.

Lý luận này nghe rất tức cười. Tuy nhiên, cái lô-gic của Đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) biện hộ cho cuộc Tàn Sát Thiên Môn vào ngày 4/6/1989 là giống hệt như của tên tội phạm trên. ĐCSTQ tranh cãi rằng “đàn áp sinh viên” đã tránh được “nội loạn” tiềm tàng tại Trung Quốc. Vì vậy để ngăn chặn “nội loạn”, nên “bức hại sinh viên” đã được cho là có lý.

“Cưỡng hiếp hay giết người, trường hợp nào tốt hơn?”. Tên tội phạm hỏi quan tòa một câu hỏi như vậy trong phiên xử chứng tỏ rằng tên tội phạm vô liêm sỉ đến cỡ nào. Tương tự như vậy, trong vấn đề Tàn Sát ở Thiên An Môn, Đảng cộng sản Trung Quốc và bọn tay sai đã không kiểm điểm xem bọn chúng đã phạm tội giết người hay không, thay vào đó chúng đã chất vấn xã hội cái nào tốt hơn, chọn “đàn áp sinh viên”  hoặc là chọn “nội loạn mà có thể dẫn đến nội chiến?”

Đảng cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ) khống chế tất cả guồng máy quốc gia và công cụ tuyên truyền. Nói một cách khác, một tỉ ba người dân Trung Quốc đang bị ĐCSTQ giữ làm con tin. Với một tỉ ba con tin nằm trong tay, ĐCSTQ luôn tranh cãi bằng “lý luận con tin” của nó, rằng nếu nó không đàn áp một nhóm người này, thì toàn bộ đất nước có thể xuất hiện nội loạn. Sử dụng điều này như một lý do để ĐCSTQ có thể thẳng tay đàn áp bất cứ cá nhân hay tập thể nào, và sự đàn áp của nó luôn luôn được cho là có lý. Đưa ra những tranh cãi dối trá và lập luận sai lạc như thế, vậy thử hỏi có tên vô lại nào trên thế giới mà còn lưu manh quá cỡ hơn là Đảng cộng sản Trung Quốc hay không?

4. Vừa đánh vừa vuốt ve – Từ được “tự do” đến ‘đàn áp leo thang’

 Nhiều người dân cảm thấy rằng hiện tại họ đang hưởng nhiều “tự do” hơn trước, nên họ đặt hy vọng vào triển vọng cải thiện của Đảng cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ). Trên thực tế, mức độ tự do mà người dân được “ban tặng” còn tùy thuộc vào cảm nhận nguy cơ của ĐCSTQ. ĐCSTQ làm bất cứ điều gì để duy trì những lợi ích tập đoàn của Đảng, bao gồm cả ban bố cái gọi là ‘dân chủ, tự do và nhân quyền’ cho dân chúng.

Tuy nhiên, dưới sự thống trị của Đảng Cộng Sản, cái gọi là “tự do” của nó, không được bảo vệ bởi bất cứ pháp luật nào cả. Cái “tự do” này hoàn toàn chỉ là một công cụ để lừa dối và khống chế người dân trong khuynh hướng quốc tế hướng tới dân chủ. Nhìn từ căn bản, cái “tự do” này là một xung đột không thể hòa giải được với chế độ độc tài của Đảng cộng sản. Một khi xung đột đó vượt quá mức chịu đựng của Đảng cộng sản, thì nó có thể lấy lại tất cả “tự do” ngay lập tức. Trong lịch sử của ĐCSTQ, đã có nhiều thời kỳ mà thảo luận và phát biểu cũng tương đối được tự do, sau mỗi thời kỳ đó là một thời kỳ bị khống chế chặt chẽ. Lặp đi lặp lại, lật lọng tráo trở như thế được tiến hành trong suốt lịch sử của ĐCSTQ, đã biểu hiện cho loại bản tính lưu manh của Đảng cộng sản Trung Quốc.

Vào thời đại của Internet hiện nay, nếu bạn viếng thăm website chính thức Tân Hoa hay tờ Nhân Dân Nhật Báo trên mạng điện báo của Đảng cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ), bạn sẽ thấy quả thật có vài báo cáo chứa đựng những tin tức xấu về Trung Quốc. Thứ nhất là vì hiện nay có quá nhiều tin xấu lan truyền mau lẹ ở Trung Quốc, các cơ quan thông tin phải tường thuật các câu chuyện này để giữ uy tín. Thứ hai, quan điểm của các bài tường thuật như thế phải trùng hợp với lợi ích của Đảng cộng sản, chẳng hạn như “phê bình nhỏ đem đến lợi ích lớn”. Các bài tường thuật phải luôn luôn hướng nguyên nhân tin xấu vào một cá nhân nhất định nào đó, không dính dấp gì đến Đảng, trong khi đó phải vuốt chân Đảng như là “không dựa vào lãnh đạo của Đảng là không được”. ĐCSTQ khống chế khéo léo những gì cần phải tường thuật, những gì không nên nói, tường thuật bao nhiêu, và có nên để cơ quan thông tin trong Trung Quốc hoặc là các tổ chức thông tin ở hải ngoại, dưới sự khống chế của ĐCSTQ, đọc bài tường thuật hay không.

Đảng cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ) rất giỏi trong việc biến chuyển tin xấu thành những gì mà có thể đạt được kết quả mong muốn để chiếm lòng dân. Nhiều thanh niên tại Trung Quốc đại lục cảm thấy rằng ĐCSTQ hiện nay cho ra mức độ tự do ngôn luận khá tốt, và bởi thế mang đầy hy vọng và cám ơn ĐCSTQ. Họ đều là những vật hy sinh cho các chiến lược “đã tinh xảo” của những công cụ thông tin lưu manh do chính quyền của Đảng cộng sản khống chế. Hơn thế nữa, bằng cách tạo nên một tình thế hỗn loạn trong xã hội Trung Quốc rồi đem tường thuật trên một số cơ quan thông tin, ĐCSTQ có thể thuyết phục người dân rằng chỉ có dựa vào quyền lực mạnh mẽ của ĐCSTQ thì mới có thể khống chế đại cuộc, và vì vậy có thể ép buộc dân chúng phải chấp hành theo luật lệ của nó.

Bởi thế, chúng ta không nên lầm tưởng rằng Đảng cộng sản tự nó đã thay đổi, ngay cả khi chúng ta thấy được một vài dấu hiệu cải thiện trong vấn đề nhân quyền của ĐCSTQ. Trong lịch sử, khi Đảng cộng sản tranh đấu để lật đổ chính phủ Quốc Dân Đảng, nó đã giả vờ đấu tranh cho nền dân chủ của đất nước. Bản tính lưu manh của Đảng cộng sản quyết định rằng mọi hứa hẹn của ĐCSTQ là không thể tin cậy được.

V. Bộ mặt lưu manh của Đảng Cộng Sản Trung Quốc trong mọi phương diện

1. Bán quốc gia, cầu vinh—mạo danh ‘duy hộ thống nhất’ mà thực ra là bán đất của quốc gia.

 “Giải phóng Đài Loan” và “thống nhất Đài Loan” là các khẩu hiệu tuyên truyền của Đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) trong vài chục năm qua. Với lời tuyên truyền này, ĐCSTQ đóng vai của những nhân sĩ yêu nước. ĐCSTQ có thực sự quan tâm đến chủ quyền lãnh thổ quốc gia không? Không một chút nào. Đài Loan chẳng qua chỉ là một sự đấu tranh giữa Đảng Cộng Sản và Quốc Dân Đảng mà được chế tạo thành vấn đề lưu lại của lịch sử, và được Đảng Cộng Sản dùng để đả kíck đối phươngvà để lấy lòng dân chúng.

Trong những ngày đầu khi Đảng cộng sản Trung Quốc thành lập hội “Trung Hoa Sô Viết” dưới thời cầm quyền của Quốc Dân Đảng – điều 14 trong bản Hiến Pháp của nó có ghi rằng “bất cứ dân tộc thiểu số nào, hay thậm chí bất cứ tỉnh nào của Trung Quốc đều có thể tuyên bố độc lập”. Để thỏa hiệp với Liên Bang Sô Viết, khẩu hiệu của Đảng cộng sản Trung Quốc lúc bấy giờ là “Bảo vệ Sô Viết”. Trong cuộc kháng chiến chống Nhật, mục tiêu chính của Đảng cộng sản là nắm lấy cơ hội để bành trướng thế lực của nó hơn là đấu tranh với quân xâm lăng Nhật Bản. Năm 1945, Hồng Quân Sô Viết tràn vào miền Đông Bắc Trung Quốc và đã phạm vào tội cướp bóc, giết người và hãm hiếp, nhưng ĐCSTQ không hề thốt lên một lời phản đối. Tương tự như vậy, khi Liên bang Sô Viết ủng hộ Ngoại Mông Cổ được độc lập khỏi Trung Quốc, một lần nữa ĐCSTQ lại im lặng.

Cuối năm 1999, ĐCSTQ và Nga đã ký bản hiệp ước Giám định Biên giới Nga-Trung, trong đó ĐCSTQ chấp nhận tất cả các điều khoản bất bình đẳng mà triều đại nhà Thanh và Nga đã ký kết hơn 100 năm trước, và đã bán hơn một triệu kilômét vuông đất cho Nga, một vùng đất rộng hơn Đài Loan gấp mấy chục lần. Trong năm 2004, Đảng cộng sản Trung Quốc và Nga đã ký bản thỏa ước “Thỏa hiệp bổ túc miền Đông biên giới”, và theo báo cáo thì lại mất một nửa chủ quyền của đảo Hắc Hạt Tử trong tỉnh Hắc Long Giang cho Nga lần nữa .

Về các vấn đề biên giới khác như chủ quyền về quần đảo Nam Sa và đảo Điếu Ngư, ĐCSTQ không quan tâm chút nào vì các vấn đề này không ảnh hưởng đến quyền lực thống trị của Đảng. ĐCSTQ đã rầm rộ hô hào “Thống nhất Đài loan”, chẳng quachỉ là tạo ra màn khói để che đậy, và là thủ đoạn lưu manh để kích động lòng yêu nước mù quáng, và giữ cho dân chúng không chú ý tới các mâu thuẫn nội bộ.

2. Chính trị lưu manh không có đường lối căn bản đạo đức

Chính phủ cần phải luôn luôn được giám sát. Trong những nước dân chủ, sự tách biệt giữa quyền lực với tự do ngôn luận và báo chí là một cơ chế tốt để giám sát. Các tín ngưỡng tôn giáo cung cấp thêm sự tự kiềm chế về mặt đạo đức.

 Nhưng Đảng Cộng Sản lại tuyên truyền các lý luận vô Thần, vì vậy nó không có bản tính thánh thiện để ràng buộc các hành vi của nó về mặt đạo đức. Thực hành của Đảng cộng sản lại là chuyên chế độc tài, vì vậy không có ràng buộc của luật pháp về mặt chính trị. Kết quả là Đảng cộng sản hoàn toàn không sợ Trời phạt và không bị luật pháp kiềm hãm khi nó hành động với bản tính lưu manh và bạo ngược. Theo Đảng cộng sản Trung Quốc(ĐCSTQ) thì ai giám sát Đảng? “Tự mình!” Đây là khẩu hiệu mà ĐCSTQ đã dùng để lừa dối người dân trong nhiều chục năm qua. Từ việc “tự mình” phê bình trong thời gian đầu, đến “tự mình” giám sát đốc thúc, rồi “tự mình” hoàn hảo sự lãnh đạo của Đảng, và gần đây nhất “tự mình” đề cao năng lực chấp chính của Đảng. Đảng cộng sản Trung Quốc nhấn mạnh cái năng lực lớn mạnh của Đảng cộng sản gọi là “tự mình cải thiện”. ĐCSTQ không chỉ nói thôi, mà là thật sự hành động, như là thành lập “Ủy Ban Kiểm Tra Kỷ Luật Trung Ương” và “Văn Phòng Kháng Cáo” và những cái tương tự như vậy. Các tổ chức này chỉ là “những bình hoa” đẹp đẽ nhưng vô dụng để mê hoặc và đánh lạc hướng dân chúng.

Không có kiềm chế về mặt pháp luật và đạo đức, “tự mình cải thiện” của Đảng cộng sản, theo truyền thống người Trung Quốc đã nói thì chính là “tự tâm sinh ma”. Đây chẳng qua chỉ là cái cớ mà ĐCSTQ dùng để tránh sự giám sát, đốc thúc từ bên ngoài, từ chối cởi mở tự do báo chí và tự do đảng phái chính trị. Bọn chính trị lưu manh dùng chiêu bài này để lừa bịp dân chúng, và đồng thời để bảo vệ ” tính hợp pháp” của ĐCSTQ và lợi ích của nhóm cầm quyền.

Giở trò lưu manh chính trị là đặc trưng của ĐCSTQ. “Nhân dân Dân chủ chuyên chính”, “Chế độ tập trung dân chủ” , “Chính trị hiệp thương” v.v… đều là các trò chơi lường gạt người ta. Ngoại trừ “chuyên chính” (tức là “độc tài, là chính quyền chuyên về…”), còn tất cả đều là dối trá.

3. Chơi trò ‘âm mưu ngụy kế’ — từ giả vờ kháng Nhật đến giả vờ chống khủng bố

Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) luôn tuyên bố là đã dẫn dắt nhân dân Trung Quốc đánh bại quân xâm lược Nhật Bản. Tuy nhiên, rất nhiều tài liệu lịch sử vạch rõ rằng ĐCSTQ đã cố tình tránh giao tranh trong cuộc chiến kháng Nhật. ĐCSTQ chỉ cản trở nỗ lực chống Nhật bằng cách lợi dụng sự tham gia chiến tranh của Quốc Dân Đảng để phát triển lực lượng của chính nó.

Chỉ có hai trận chiến chính mà ĐCSTQ đã tham dự là “Chiến Dịch Bình Hình Quan” và “Đại Chiến Bách Đoàn”. Trong “Chiến Dịch Bình Hình Quan”, ĐCSTQ không phải là lãnh đạo hoặc quân chủ lực mà đã tham dự hay chỉ huy trận chiến này. Thay vào đó, quân của ĐCSTQ chỉ phục kích các đơn vị quân nhu quân dụng của lính Nhật mà thôi. Còn trận thứ hai, người ta tin rằng nội bộ ĐCSTQ mà tham dự vào cuộc chiến này là vi phạm chính sách chiến lược của Trung Ương Đảng. Sau hai trận chiến này, Mao và quân đội ĐCSTQ của hắn không tham dự vào một trận chiến quan trọng nào cả, cũng không tạo ra những anh hùng nào trong cuộc chiến Trung – Nhật như là Đổng Tồn Thụy trong cuộc chiến với Quốc Dân Đảng vào năm 1948, và Hoàng Kế Quan trong chiến tranh Triều Tiên. Chỉ có một số ít chỉ huy cao cấp của ĐCSTQ đã chết trên chiến địa chống Nhật. Cho đến nay, ĐCSTQ còn không thể báo cáo ngay cả con số thiệt hại trong chiến tranh kháng Nhật, cũng không một ai có thể tìm được những đài tưởng niệm anh hùng liệt sĩ của ĐCSTQ trong cuộc chiến kháng Nhật ở trên mảnh đất Trung Quốc rộng lớn.

Cùng lúc đó ĐCSTQ đã thành lập “Chính phủ vùng biên giới” tại các tỉnh Thiểm Tây, Cam Túc, Ninh Hạ rất xa chiến địa. Dùng ngôn ngữ ngày nay để nói, thì chính là ĐCSTQ đã thi hành “một quốc gia hai chế độ”, hoặc “hai xứ Trung Quốc” ở bên trong nước Trung Hoa. Mặc dầu các sĩ quan chỉ huy của ĐCSTQ không thiếu nhiệt tình chống lại quân Nhật, nhưng các quan chức cao cấp của ĐCSTQ đã không chân thật trong cuộc chiến đấu để kháng Nhật, mà trái lại đã dùng phương sách bảo tồn thực lực và lợi dụng chiến tranh này như một cơ hội để tăng thêm sức mạnh. Khi Trung Quốc và Nhật Bản nối lại quan hệ ngoại giao vào năm 1972, Mao Trạch Đông đã tiết lộ sự thật với Thủ tướng Nhật Bản, Kakuei Tanaka, rằng ĐCSTQ phải cám ơn Nhật Bản, bởi vì nếu không có cuộc chiến kháng Nhật, ĐCSTQ không thể nào nắm được quyền lực ở Trung Quốc.

Đây chính là sự thật về lời tuyên bố giả dối của ĐCSTQ rằng nó đã lãnh đạo nhân dân Trung Quốc kiên trì tám năm kháng chiến chống Nhật và cuối cùng dành thắng lợi.

Hơn nửa thế kỷ sau, với sự kiện ngày 11 tháng 9, bọn khủng bố tấn công trên đất Mỹ, nỗ lực chống khủng bố đã trở thành một phong trào của thế giới. ĐCSTQ một lần nữa, lại giở trò quỷ kế lưu manh, tương tự như kiểu giả vờ kháng Nhật. Giả vờchống khủng bố, ĐCSTQ đã gán nhãn hiệu “bọn khủng bố” cho nhiều người theo tôn giáo tín ngưỡng, những nhân sĩ bất đồng chính kiến, các nhóm liên quan đến các xung đột lãnh thổ hay sắc tộc. Trong chiêu bài chống khủng bố, ĐCSTQ đã phát động nhiều cuộc đàn áp bạo lực.

Ngày 27 tháng 9 năm 2004, Tân Hoa Xã đã trích từ báo Tân Kinh rằng Bắc Kinh có thể thành lập văn phòng chống khủng bố đầu tiên trong tất cả các tỉnh và thành phố tại Trung Quốc.  Ngay cả một số phương tiện truyền thông ủng hộ ĐCSTQ tại hải ngoại còn đưa tin trên hàng đầu: “ Văn Phòng 610 tham gia chống khủng bố”, (‘Văn Phòng 610’ là một tổ chức mạng lưới được thành lập một cách bất hợp pháp mà sử dụng các cơ quan chính phủ để đặc biệt khủng bố những học viên Pháp Luân Công), tuyên bố rằng văn phòng chống khủng bố này sẽ tập trung tấn công “các tổ chức khủng bố”, bao gồm có Pháp Luân Công.

ĐCSTQ dán nhãn hiệu “bọn khủng bố” lên những người không có vũ khí trong tay, không đánh trả lại khi bị đánh đập, không nói lại khi bị lăng mạ, và thỉnh nguyện ôn hòa cho quyền được giữ niềm tin của họ. Lợi dụng trào lưu chung là chống khủng bố, ĐCSTQ đã điều động “lực lượng chống khủng bố đặc biệt” của nó, được trang bị đến tận răng, để thi hành cuộc trấn áp nhanh chóng nhóm người hòa bình không tự vệ này (những học viên Pháp Luân Công). Hơn nữa, ĐCSTQ đã lợi dụng lý do chống khủng bố để tránh dư luận và sự lên án của quốc tế về cuộc khủng bố Pháp Luân Công của nó. Những thủ pháp lưu manh được dùng ngày nay không khác gì những thứ đã được ĐCSTQ dùng trong cuộc chiến kháng Nhật, và là thủ pháp đáng sỉ nhục rất nhiều đối với một vấn đề nghiêm trọng là các nỗ lực chống khủng bố trên thế giới.

4. Bề ngoài phụng sự, bên trong là trái lại — thực ra chỉ giả dối

Đảng Cộng Sản Trung Quốc không tin vào các học thuyết của chính nó, nhưng vẫn ép buộc người khác phải tin vào chúng. Đây là một thủ pháp lưu manh nhất mà tà giáo Đảng Cộng Sản đã dùng. Nó biết rằng những tà thuyết của nó là giả, và chủ nghĩa xã hội là giả, và đã bị phá sản. Đảng Cộng Sản Trung Quốc, chính nó đều  không tin vào những tà thuyết này, nhưng vẫn cưỡng ép nhân dân phải tin vào chúng, không tin là không được, không tin là phải bị đàn áp. Điều sai lầm nhất và vô liêm sỉ là Đảng Cộng Sản còn viết loại lý luận lừa gạt của nó vào trong Hiến pháp, làm như là đại cương lập quốc vậy.

Trong cuộc sống thực tế có một hiện tượng thú vị, chính là nhiều quan chức cao cấp bị mất chức trong cuộc đấu tranh chính trị ở quan trường của Trung Quốc bởi vì thối nát tham nhũng, nhưng đây lại chính là những người đã nói nhấn mạnh đặc biệt về“sự liêm khiết phụng sự công chúng” trong các buổi họp công cộng, trong khi đó chúng ăn hối lộ, tham nhũng và có nhiều hoạt động đồi bại ở đằng sau. Nhiều người mà gọi là “công bộc của nhân dân” đã sa ngã kiểu này, trong đó có Lý Gia Đình cựu tỉnh trưởng Vân Nam, Lưu Phương Nhân bí thư tỉnh ủy Quí Châu, Trình Duy Cao bí thư tỉnh ủy Hà Bắc, Điền Phượng Sơn bộ trưởng Bộ đất đai và tài nguyên, và Vương Hoài Trung phó tỉnh trưởng tỉnh An huy. Tuy nhiên nếu quý vị xem xét các bài diễn văn của chúng, quí vị sẽ thấy rằng, không có ngoại lệ, chúng đều ủng hộ các chiến dịch chống tham nhũng, và lặp đi lặp lại thúc dục cấp dưới phải hành xử thật thà, ngay cả khi chính bọn chúng đang biển thủ công quỹ và nhận hối lộ.

Mặc dầu Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã nêu lên những gương mẫu điển hình, và thường kêu gọi những người có lý tưởng và hăng say gia nhập Đảng Cộng Sản để nâng cao bộ mặt của Đảng, nhưng người ta đều thấy rõ chuẩn mực đạo đức của Trung Quốc bại hoại đến mức đáng sợ như thế nào. Tại vì sao các tuyên truyền về “văn minh tinh thần” của Đảng Cộng Sản Trung Quốc lại không có tác dụng?

Kỳ thực, các lãnh tụ của Đảng Cộng Sản khi dẫn dắt quần chúng, thường nói những thứ như “chất lượng đạo đức của chủ nghĩa cộng sản”, hay “phục vụ vì nhân dân”, tất cả đều không khác biệt mấy với những lời giả dối.  Sự không đồng nhất giữa hành động và lời nói của các lãnh tụ Đảng  Cộng Sản có thể được truy nguyên tới người cha sáng lập của chúng là Karl Marx. Marx có một đứa con hoang. Lenin bị bệnh giang mai từ gái điếm. Stalin bị kiện vì cưỡng ép một ca sĩ làm tình. Mao Trạch Đông đắm sâu trong tình dục; Giang Trạch Dân dâm loạn; Ceausescu, lãnh tụ Đảng Cộng Sản Romania, làm cho cả gia tộc giàu có một cách bẩn thỉu; Castro, lãnh tụ Đảng  Cộng Sản Cuba, vơ vét hàng trăm triệu đô la gửi nhà băng nước ngoài; Kim Il Song, con quỉ giết người của Đảng Cộng Sản Bắc Hàn, cùng với con cái sống trong trụy lạc và phung phí.

Trong cuộc sống hàng ngày, dân chúng Trung Quốc chán ghét các buổi học tập chính trị rỗng tuếch. Càng ngày họ càng làm qua loa cho xong việc đối với những thứ như “giảng chính trị”, bởi vì mọi người đều biết tất cả chúng đều là những trò lừa bịp. Nhưng không một ai, từ người phát biểu lẫn thính giả trong các buổi họp chính trị này, dám nói thẳng về các điều dối trá đó. Người ta gọi hiện tượng này là “giả vờ nhận là thật” để thông qua .  Các khẩu hiệu nổi tiếng của Đảng Cộng Sản Trung Quốc như “Tam đại biểu” của vài năm trước, rồi đến “đề cao năng lực chấp chính” sau này, và “ba trái tim” hiện nay—“sưởi ấm lòng dân, ổn định lòng dân và được lòng dân”—tất cả đều là lời nói thừa. Có Đảng cầm quyền nào mà không đại diện cho quyềnlợi của nhân dân? Đảng cầm quyền nào mà không quan tâm đến năng lực nắm chính quyền? Đảng cầm quyền nào mà không cố gắng lấy lòng dân? Bất cứ Đảng nào mà không quan tâm đến những vấn đề đó sẽ sớm bị đào thải khỏi chính trường. Nhưng ĐCSTQ lại xem các khẩu hiệu thừa đó như các lý luận tinh diệu không thể đo lường và đòi hỏi người dân trên toàn quốc phải học chúng.

Khi sự giả vờ để “đi qua cầu” đã dần dần đóng khuôn vào lối suy nghĩ và thói quen của hơn tỷ người dân, và đã trở thành một loại hiện tượng “văn hóa Đảng”, thì sẽ dẫn tới một hiện tượng mà toàn bộ xã hội trở thành “giả tạo, và không có”: không có lòng thành thật và không có niềm tin tưởng lẫn nhau, toàn bộ xã hội đó sẽ bị nguy cơ. Tại sao Đảng Cộng Sản Trung Quốc phải làm như thế? Trong quá khứ là vì “chủ nghĩa”, nhưng hiện nay là vì “lợi ích” của nó. Đảng viên cộng sản biết rõ là giả vờđể “đi qua cầu”, nhưng họ vẫn phải làm. Nếu Đảng cộng sản Trung Quốc không làm những thứ này, người ta sẽ không có cảm giác sợ bọn lưu manh ác bá. Nó không thể bắt người ta ủng hộ theo nó và sợ nó.

5. Diệt mất lương tri — khiến cảm giác chánh nghiã của cá nhân phải khuất phục dưới lợi ích của Đảng

Trong cuốn sách “ Luận về sự tu dưỡng của đảng viên Cộng Sản”, Lưu Thiếu Kỳ [8] đặc biệt nhấn mạnh sự cần thiết về “lợi ích cá nhân của đảng viên phải phục tùng vô điều kiện trước lợi ích của Đảng”. Trong lịch sử, các đảng viên ĐCSTQ không thiếu những người có chính nghĩa mà quan tâm đến quốc gia và dân tộc, cũng không thiếu những quan chức liêm chính thực sự muốn phục vụ nhân dân. Nhưng trong guồng máy tư lợi của Đảng Cộng Sản, những người này không thể tồn tại. Dưới áp lực không ngừng để cho “nhân tính phục tùng đảng tính”, họ thường là không thể tiếp tục, bị cách chức, hay tệ hơn nữa là trở nên tham nhũng.

Người dân Trung Quốc từng trải qua kinh nghiệm cá nhân, đã cảm nhận sâu sắc chế độ tàn bạo lưu manh của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, và đã hình thành nỗi khiếp sợ bạo lực của ĐCSTQ. Do đó người ta không dám bảo vệ chính nghĩa, và cũng không tin vào công lý. Đầu tiên họ khuất phục cường quyền của Đảng, dần dần họ trở thành khúc gỗ bất nhân, hay không để ý về những gì không liên quan đến bản thân họ. Ngay cả lối suy xét của họ cũng đã bị đóng khuôn để phục tùng  cường quyền. Đây là kết quả của bản tính lưu manh trong xã hội đen của ĐCSTQ.

6. “Chủ nghĩa ái quốc” — hiệu lệnh của tà giáo nhằm tổng động viên khẩn cấp toàn quốc

Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) sử dụng những khẩu hiệu của “chủ nghĩa ái quốc” và “chủ nghĩa dân tộc” để kích động dân chúng. Các khẩu hiệu này không những là các cờ hiệu to lớn của ĐCSTQ, mà còn là những hiệu lệnh được phát ra thường xuyên, và là những chiến lược đã qua thời gian thử nghiệm. Khi đọc những tuyên truyền về chủ nghĩa dân tộc của tờ Nhân Dân Nhật Báo hải ngoại, những Hoa kiều hải ngoại mà nhiều chục năm không dám trở về nước để sinh sống, có thể vẫn còn yêu nước so với những người dân tại quốc nội. Còn những người dân Trung Quốc, những người không dám và cũng không thể nói “không” với bất cứ chính sách nào của Đảng Cộng Sản, dưới sự xúi bẩy của các nhóm tổ chức của Đảng, lại dámgây giông bão cho Đại sứ quán và Tòa lãnh sự Hoa kỳ tại Trung Quốc, mà ném trứng, đá, đốt xe và cờ Hoa Kỳ, tất cả sự kiện này đều xảy ra dưới ngọn cờ “yêu nước”.

Mỗi khi Đảng Cộng Sản gặp vấn đề lớn lao cần người dân trên toàn quốc phải tuân theo, nó lại sử dụng chiêu bài “yêu nước” và “dân tộc” để khẩn cấp động viên dân chúng. Trong tất cả các trường hợp, bao gồm cả những vấn đề liên quan tới Đài Loan, Hồng Kông, Pháp Luân Công, va chạm giữa phi cơ gián điệp Mỹ và phi cơ chiến đấu của Trung Quốc—ĐCSTQ đều sử dụng phương pháp tổng hợp giữa sự sợ hãi cao độ và tẩy não tập thể, để làm cho người dân trên toàn quốc có trạng thái tâm trí giống như đang ở trong chiến tranh. Phương pháp này tương tự như cách của phát xít Đức đã dùng.

Bằng cách ngăn chặn tất cả tin tức khác, sự tẩy não của ĐCSTQ đã thành công vô cùng. Mặc dù người dân Trung Quốc không thích ĐCSTQ nhưng họ suy nghĩ theo cách méo mó đã được ĐCSTQ tiêm nhiễm vào. Trong chiến tranh Mỹ – Irag, ví dụ như, nhiều người bị kích động khi theo dõi sự phân tích chủ quan hàng ngày trên đài truyền hình CCTV [9]. Họ cảm thấy thù ghét, mong báo thù, và có tâm lý muốn chiến đấu, nhưng đồng thời lại nguyền rủa một cuộc chiến tranh khác.

7. Vô liêm sỉ — Đặt sai vị trí của Đảng và quốc gia, bắt nhân dân nhận kẻ cướp làm cha

Một trong những câu nói mà Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) thường dùng để đe dọa dân chúng là “mất Đảng thì mất nước”, vì vậy đặt Đảng đằng trước quốc gia; phương châm lập quốc của ĐCSTQ là “không có Đảng Cộng Sản thì không có tân Trung Quốc”. Từ thủa sơ sinh, người dân đã được giáo dục là phải “nghe theo lời Đảng”, và “ làm nhi đồng ngoan của Đảng”. Họ hát bài ca tụng Đảng: “Tôi xem Đảng như mẹ tôi”, hoặc “Ôi, Đảng, mẹ yêu của tôi”, “Ơn Đảng sâu hơn biển cả”, “Yêu cha mẹ không bằng yêu Đảng” [10]. Họ sẽ “hăng say chiến đấu bất cứ nơi nào Đảng chỉ định”. Khi chính phủ cứu trợ thảm hoạ, dân chúng phải “cám ơn Đảng và chính phủ”—trước tiên là Đảng, sau mới tới chính phủ. Khẩu hiệu quân đội là “Đảng chỉ huy nòng súng”. Ngay cả khi các nhà chuyên gia vẽ mẫu đồng phục cho các quan tòa, họ gắn bốn khuy vàng trên cổ áo đồng phục. Những khuy này từ trên xuống dưới để tượng trưng cho Đảng, nhân dân, luật pháp và tổ quốc. Điều này chứng tỏ rằngmặc dù anh là quan tòa, Đảng sẽ vĩnh viễn được đặt trên luật pháp, quốc gia, và nhân dân.

Đảng‘, tại Trung Quốc, đã trở thành lời xưng hô chí cao đến độ không gì cao hơn, và “quốc gia” trở thành phụ thuộc của Đảng. Quốc gia vì Đảng mà tồn tại, và Đảng trở thành hóa thân của nhân dân, là tượng trưng của quốc gia. Yêu Đảng, yêu ngườilãnh đạo Đảng, và yêu nước bị trộn lẫn vào nhau, đó là nguyên nhân căn bản tại sao chủ nghĩa ái quốc ở Trung Quốc đã bị bóp méo.

Dưới ảnh hưởng lặng lẽ nhưng liên tục không ngừng của tuyên truyền và giáo dục của ĐCSTQ, rất nhiều người, dù là Đảng viên hay không, đã bắt đầu lẫn lộn Đảng với quốc gia, cho dù họ có ý thức được hay không. Họ đã cho rằng “lợi ích của Đảng” là cao hơn tất cả, hoặc lặng lẽ cho rằng “lợi ích của Đảng chính là lợi ích của nhân dân, lợi ích của  quốc gia”. Từ đó mà tập đoàn lưu manh của ĐCSTQ đã tạo nên một môi trường để cho  ĐCSTQ phản bội lợi ích của quốc gia.

8. Giở trò “sửa sai” và biến những hành vi tội lỗi thành “thành tích vĩ đại”

Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã tạo rất nhiều sai lầm to lớn trong lịch sử. Nhưng thông qua việc “sửa sai và rửa sạch oan uổng”, nó lại đem những sai lầm này quy về một số cá nhân hoặc các tập thể nào đó. Điều này không những làm cho nạn nhân mang ơn Đảng sâu sắc, mà còn cho phép Đảng hoàn toàn trốn tránh bất cứ trách nhiệm của các hành vi tội phạm nào do nó gây ra. ĐCSTQ tự tuyên bố là không những “không sợ phạm lỗi, mà còn giỏi sửa lỗi” [11], và điều này đã trở thành ma dược kỳ diệu của ĐCSTQ mà nhờ đó nó đã thoát tội từng lần, từng lần một. Vì vậy, ĐCSTQ luôn thừa nhận là Đảng của “vĩ đại, quang vinh và chính xác”.

Có thể có một ngày, ĐCSTQ sẽ quyết định ‘sửa sai’ trong vụ Tàn Sát Thiên An Môn và phục hồi danh tiếng của Pháp Luân Công. Nhưng những điều này chỉ là các thủ đoạn lưu manh mà ĐCSTQ sử dụng để gắng sức kéo dài đời sống hấp hối của nó. ĐCSTQ sẽ không bao giờ có dũng khí để kiểm điểm lại chính mình, và để thanh toán các hành vi tội phạm của chính mình.

VI. Bộc lộ bộ mặt lưu manh – viện cớ ‘khủng bố quốc gia’ để diệt sạch “Chân Thiện Nhẫn”

Sự kiện giả tạo “Tự thiêu tại Thiên An Môn” do tập đoàn tà giáo Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) dàn cảnh có thể xem là lời dối trá của ĐCSTQ trong thế kỷ. Để đàn áp Pháp Luân Công, chính quyền đã bại hoại đến độ dụ dỗ năm người dân giả làm học viên Pháp Luân Công trình diễn màn tự thiêu giả tạo tại quảng trường Thiên An Môn. Thông đồng với những kẻ mưu đồ bất lương này, năm người tham dự đã vô ý ký vào bản án tử hình của chính họ, và kết quả họ, hoặc đã bị đánh chết trên hiện trường hoặc bị giết sau đó. Khi xem cuốn phim video tự thiêu quay chậm lại, do chính đài CCTV phát hành, có thể thấy rõ rằng Lưu Xuân Linh, một trong số người tự thiêu, bị cảnh sát đánh chết ngay tại chỗ. Các lỗi khác đóng trong phim bao gồm cách ngồi của ông Vương Tiến Đông, chai nhựa (được coi là đã chứa đầy xăng) còn nguyên vẹn giữa hai đầu gối của ông sau khi ngọn lửa đã được dập tắt, cuộc đối thoại giữa một bác sĩ và nạn nhân trẻ nhất, Lưu Tư Ảnh, và sự hiện diện của các phóng viên quay phim đã sẵn sàng để quay phim hiện trường. Những sự kiện này, và hơn nữa, là chứng cớ đủ để chứng minh rằng biến cố Tự Thiêu chính là một sự dối trá, được thiết kế một cách hiểm độc bởi chế độ Giang Trạch Dân, để vu khốngPháp Luân Công. [12]

Một đảng phái chính trị, như Đảng Cộng Sản Trung Quốc, sử dụng những thủ pháp tàn nhẫn và đê tiện vô cùng trong chiến dịch tuyên bố của nó để diệt sạch Pháp Luân Công. Nó đã chiếm lấy những tài nguyên, tài chánh của quốc gia tích lũy được trong 20 năm cải cách và mở cửa. Nó đã huy động Đảng, chính phủ, quân đội, cảnh sát, gián điệp, các nhà ngoại giao nước ngoài, và nhiều tổ chức chính phủ và phi chính phủ khác. Nó đã thao túng các hệ thống truyền tin trên toàn cầu, thi hành ngăn chặn tin tức chặt chẽ với sự theo dõi của cá nhân và kỹ thuật cao. Nó đã làm tất cả những điều này để đàn áp một nhóm người hòa bình tu luyện theo Pháp Luân Công, một môn khí công cổ truyền Trung Quốc mà tu luyện thân mạng, tâm và đặc tính đạo đức dựa theo nguyên lý Chân Thiện Nhẫn. Sự đàn áp tàn khốc như vậy lên những người vô tội chỉ vì niềm tin của họ đã phơi bày triệt để bản tính lưu manh của ĐCSTQ.

Trong lịch sử chưa từng có bọn lưu manh côn đồ nào mà dối trá một cách âm thầm và rộng khắp như Giang Trạch Dân và ĐCSTQ. Chúng dùng mọi loại mọi kiểu dối trá, mỗi hình thức được thiết kế để nhắm vào và thao túng các loại các kiểu quan niệm người ta đang nắm giữ, để người ta có thể dễ dàng bị lừa bịp mà tin vào những lời dối trá, và Đảng có thể kích động lòng căm ghét Pháp Luân Công. Bạn tin vào khoa học chăng? ĐCSTQ bảo rằng Pháp Luân Công mê tín dị đoan. Bạn ghét chính trị chăng? ĐCSTQ nói rằng Pháp Luân Công làm chính trị. Bạn ganh ghét người khác làm giàu ở trong hoặc ngoài nước chăng? ĐCSTQ bảo Pháp Luân Công đang thu góp của cải. Bạn phản đối  các tổ chức đoàn thể chăng? ĐCSTQ nói rằng Pháp Luân Công là một đoàn thể có tổ chức chặt chẽ. Bạn chán ngán sự tôn sùng cá nhân đã kéo dài trong nhiều thập niên ở Trung Quốc chăng? ĐCSTQ nói rằng Pháp Luân Công đề cao sự khống chế tinh thần. Bạn là người yêu nước chăng? ĐCSTQ nói rằng Pháp Luân Công chống lại Trung Hoa.  Chẳng phải bạn sợ rối loạn hay sao? ĐCSTQ bảo rằng Pháp Luân Công phá hoại sự ổn định. Bạn nói rằng Pháp Luân Công đã giảng giữ vững Chân Thiện Nhẫn rồi sao? ĐCSTQ nói rằng Pháp Luân Công không chân thật, không thiện lành, không nhẫn nhục. Nó thậm chí còn bóp méo lô-gic, tuyên bố rằng lòng Thiện  có thể sinh ra lòng ham muốn sát sanh.

Bạn có tin tưởng chính phủ không đặt điều dối trá nhiều như vậy sao? ĐCSTQ có thể tạo ra những dối trá còn to tát và gây chấn động hơn nữa, từ sự việc tự chiến đấu đến tự sát rồi tự thiêu, từ giết họ hàng đến giết người hàng loạt—quá nhiều điều dối trá đến nỗi bạn cảm thấy không thể không tin chúng. Bạn thông cảm với Pháp Luân Công chăng? ĐCSTQ liền đem các thành quả chính trị của bạn cùng với sự đàn áp Pháp Luân Công, để giáng chức bạn, đuổi việc, hoặc cắt tiền thưởng của bạn nếu cóhọc viên Pháp Luân Công tại khu vực trách nhiệm của bạn đi thỉnh nguyện ở Bắc kinh. Vì thế, bạn và Pháp Luân Công bị ép buộc phải trở thành thù địch.

Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã bắt cóc vô số học viên Pháp Luân Công, và đem họ đi học tập tẩy não để cố gắng ép buộc họ phải từ bỏ niềm tin chân chánh của họ, phản đối Pháp Luân Công, và phải hứa là không tập luyện nữa. ĐCSTQ dùng nhiều cách tà ác khác nhau để thuyết phục họ, bao gồm cả việc sử dụng họ hàng thân quyến, việc làm và “giáo dục” để tạo áp lực lên họ, hành hạ họ bằng nhiều cách tra tấn dã man, và ngay cả trừng phạt luôn cả các thành viên trong gia đình và đồng nghiệp của họ. Các học viên Pháp Luân Công mà đã bị tẩy não thành công, sau đó lại được dùng để hành hạ và tẩy não những học viên khác. ĐCSTQ lưu manh, muốn con người biến thành ma quỷ, và ép buộc họ đi theo con đường đen tối tới tận cuối đời.

VII. Chủ nghĩa xã hội lưu manh  “Đặc sắc Trung Quốc”

Ngôn từ “Đặc sắc Trung Quốc” được dùng để che đậy các tội ác của Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ). ĐCSTQ xưa nay luôn tuyên bố rằng sự thành công trong cuộc cách mạng ở Trung Quốc là nhờ vào “ sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mácxít-Lêninnít với thực tiễn cụ thể của cách mạng Trung Quốc”. Lạm dụng ngôn từ “tính đặc thù” là một thủ pháp xuyên suốt của ĐCSTQ, dùng để hỗ trợ những lý luận cho các chính sách lưu manh và lật lọng vô thường của nó.

1. Các thủ đoạn dối trá và lật lọng vô thường

Dưới chiêu bài “đặc sắc Trung Quốc”mà có tính cách lưu manh này, những gì mà Đảng Cộng   Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) hoàn thành chỉ là hoang đường và đáng tức cười .

Mục đích cách mạng của Đảng Cộng Sản là thực hiện chế độ công hữu đối với các tư liệu sản xuất (tức là quốc hữu hoá), và nó đã lừa dối nhiều người trẻ tuổi gia nhập tổ chức Đảng vì lý tưởng ‘cộng sản đại đồng‘, trong đó có không ít người còn ngay cả phản bội gia đình để dâng tài sản của họ cho Đảng. Nhưng 83 năm sau khi ĐCSTQ bắt đầu thành lập, giai cấp tư bản lại quay trở lại, mà chẳng qua [giai cấp tư bản] lần này được biến thành một phần của chính Đảng Cộng Sản, những kẻ mà ban đầu giương cao biểu ngữ “đại đồng”.

Hiện nay, trong các con cái và họ hàng của các người lãnh đạo ĐCSTQ, nhiều người là thành phần tư bản mới và giàu có, không ít đảng viên Đảng Cộng Sản đang gắng hết nỗ lực để tham gia vào nhóm mới phất lên này. Đảng Cộng Sản đã tiêu diệt địa chủ và các nhà tư sản dưới danh nghĩa cách mạng và cướp đoạt tài sản của họ. Giờ đây, “hoàng tộc” mới của Đảng thậm chí còn giàu hơn nhờ biển thủ và tham nhũng. Những người đã theo Đảng từ đầu cuộc cách mạng bây giờ thở dài “Nếu tôi biết tình trạng ngày nay thì tôi đã không theo nó rồi”. Sau nhiều thập niên đấu tranh đẫm máu và đổ mồ hôi, nay họ mới nhìn thấy, họ chẳng qua chỉ là hiến dâng tất cả tài sản của cải của ông cha để lại và cả cuộc đời của chính mình cho tà giáo Đảng Cộng Sản.

Đảng Cộng Sản nói về nền tảng kinh tế quyết định kiến trúc thượng tầng [13]; trên thực tế, đó là nền tảng kinh tế quan liêu của các viên chức tham nhũng của Đảng quyết định “kiến trúc thượng tầng cao áp” – một kiến trúc thượng tầng dựa trên các áp lực cao để tồn tại. Do đó chính sách ‘đàn áp nhân dân’ đã trở thành đường lối cơ bản của Đảng Cộng Sản.

Một đặc tính lưu manh khác của Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) biểu hiện trong việc thay đổi nội hàm của bất cứ khái niệm nào trong văn hóa của nhân loại, rồi sau đó dùng chính những khái niệm đã bị thay đổi này để phê phán và khống chếdân chúng. Khái niệm “Đảng” là một ví dụ như vậy. Kỳ thực, xưa nay hiện tượng ‘kết Đảng’ trong xã hội nhân loại đều có, xảy ra khắp cả trong và ngoài nước. Nhưng chỉ có Đảng Cộng Sản là hoàn toàn vượt quá phạm vi tập đoàn của Đảng. Nếu bạn gia nhập Đảng Cộng Sản rồi, nó phải khống chế tất cả mọi khía cạnh cuộc đời của bạn, bao gồm nhân tính, sự sinh tồn và sinh hoạt riêng tư. Bạn để cho Đảng Cộng Sản cầm quyền, nó phải khống chế xã hội, chính phủ và tất cả các cơ chế quốc gia. Nóquyết định mọi vấn đề từ việc quan trọng, lớn lao như ai sẽ là Chủ Tịch Nhà Nước, hay ai làm Bộ trưởng Quốc Phòng, hay lập ra những qui định luật lệ gì đó, đến những việc nhỏ như ai có thể sống ở đâu, và ai kết hôn, sinh bao nhiêu con cái, mà những  phương pháp khống chế này đã phát triển đến độ không còn gì để thay đổi thêm nữa.

Trong danh nghĩa của phương pháp biện chứng, ĐCSTQ đã phá hủy hoàn toàn các phương thức suy nghĩ viên dung của triết học, khả năng suy nghĩ biện luận, và tinh thần tìm tòi học hỏi. Trong khi Đảng Công Sản nói về “dựa theo công lao mà phân phối”, thì quá trình “cho phép một số người hưởng giàu có trước” đã hoàn thành được, lại là “dựa theo quyền lực mà phân phối”. Đảng Cộng Sản sử dụng sự ngụy trang “hết lòng phục vụ nhân dân” để lừa dối những ai đeo đuổi lý tưởng này, sau đó tiến hành tẩy não và khống chế toàn diện, dần dần biến họ thành các công cụ dễ sai khiến để “hết lòng phục vụ Đảng”, và họ không dám lên tiếng cho nhân dân nữa.

2. Đảng lưu manh với “Đặc sắc Trung Quốc”

Dùng nguyên tắc mà đánh giá lợi ích của Đảng lên trên tất cả mọi thứ, Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã bóp méo xã hội Trung Quốc bằng các phương thức của một tà giáo, mà tạo ra một loại người khác thật sự trong xã hội nhân loại. Loại người khác này không giống với bất cứ các quốc gia, các chính đảng, hay tập thể nào. Nguyên tắc của nó là  nguyên tắc, không có sự chân thành nào đáng nói đằng sau nụ cười của nó. Chẳng qua là người lương thiện không hiểu được ĐCSTQ, bởi vì người ta dựa theo tiêu chuẩn đạo đức của vũ trụ mà suy đoán ĐCSTQ, họ không thể tưởng tượng được rằng lại có những thứ tà ác, lưu manh như vậy, mà đại diện cho một quốc gia. Viện cớ “đặc sắc Trung Quốc” Đảng Cộng Sản đã tiến thân giữa cácdân tộc trên thế giới. “Đặc sắc Trung Quốc” là chữ viết tắt cho “Đặc sắc lưu manh của Đảng  Cộng Sản Trung Quốc”.

Chủ nghĩa tư bản khập khiễng của Trung Quốc đã biến thành “chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc”; “thất nghiệp” đổi thành “chờ việc làm” đặc sắc Trung Quốc; “bị sa thải” đổi thành “không phận sự” đặc sắc Trung Quốc; “nghèo đói” biến thành “giai đoạn bắt đầu của chủ nghĩa xã hội” đặc sắc Trung Quốc; và nhân quyền, tự do ngôn luận, và tự do tín ngưỡng đã biến thành “quyền sinh tồn” đặc sắc Trung Quốc.

3. ‘Lưu manh hóa’ quốc gia, dân tộc Trung Hoa đang đối diện với nguy cơ chưa từng thấy về đạo đức

Từ đầu thập niên 1990, Trung Quốc bắt đầu lưu hành một câu nói, rằng “Tôi là tên lưu manh, tôi không sợ ai cả”. Điều này là quả Ác dưới sự trị quốc lưu manh qua nhiều thập niên của Đảng Cộng Sản Trung Quốc – là ‘lưu manh hóa quốc gia’. Đi kèm với nền kinh tế thịnh vượng giả tạo của Trung Quốc, là nền đạo đức suy đồi tuột dốc toàn diện trong mọi lãnh vực của xã hội.

Các đại biểu quốc hội Trung Quốc luôn luôn nói về sự “thành thật và tin tưởng” trong Quốc Hội Nhân Dân Trung Quốc. Trong các kỳ thi vào đại học, học sinh bắt buộc phải viết về đề mục “ sự thành thật và tin tưởng”. Điều này cho thấy sự thiếu hụt vềthành thật và tin tưởng, cùng với sự tụt dốc đạo đức đã trở thành một nguy cơ không nhìn thấy được nhưng rộng khắp trong xã hội Trung Quốc. Tham nhũng thối nát, biển thủ, sản phẩm giả, dối trá, lòng người xấu xa bỉ ổi và thuần phong mỹ tục xuống dốc mau lẹ là chuyện thường; không có một tín nhiệm cơ bản nào giữa người với người nữa.

Đối với những người đã tuyên bố hài lòng về tiêu chuẩn đời sống được nâng cao, thử hỏi mối quan tâm nhất của họ chẳng phải là sự ổn định trong cuộc sống hay sao? Mà cái gì là yếu tố trọng yếu nhất trong sự ổn định xã hội? Đó chính là đạo đức. Một xã hội mà đạo đức xuống dốc không thể nào đem đến an ninh và bảo đảm.

Tới ngày nay, ĐCSTQ đã đàn áp xong hầu như tất cả các tôn giáo truyền thống và giải thể hệ thống giá trị truyền thống. Con đường lưu manh mà nhờ đó ĐCSTQ chiếm được của cải và lừa dối người dân đã có một ảnh hưởng dần dần lan xuống toàn xã hội, làm thối nát toàn bộ xã hội và dẫn dắt nhân dân của nó theo hướng lưu manh hóa. Cai trị bằng những thủ đoạn lưu manh, đương nhiên trên thực chất, ĐCSTQ cần một xã hội lưu manh để làm môi trường cho nó tồn tại. Đó là tại sao ĐCSTQ dùng mọi thứ để lôi kéo người dân xuống tầng cấp của nó, cố gắng biến nhân dân Trung Quốc thành các loại lưu manh lớn nhỏ với trình độ khác nhau. Bản tính lưu manh của Đảng Cộng Sản Trung Quốc đang chôn vùi căn cơ đạo đức mà gắn bó với dân tộc Trung Hoa như thế.

Lời kết

“Sông núi dễ đổi, bản tính khó thay”[14]. Lịch sử đã chứng minh rằng cứ mỗi lần Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) nới lỏng gông cùm và xiềng xích, đều tuyệt không có ý định vứt bỏ xiềng xích đi. Sau trận Đại Đói Kém vào đầu thập niên 1960, ĐCSTQ đã theo chương trình “Tam tự Nhất Bao” (Ba Tự Do và Một Giao Ước) [15] để nhằm khôi phục sự sản xuất của nông thôn, nhưng không có ý định thay đổi thân phận “nông nô” (tá điền) của nông dân Trung Quốc. Cuộc “cải cách kinh tế” và “tự do hóa” vào thập niên 1980 đã không ảnh hưởng chút nào tới việc ĐCSTQ nâng con dao đồ tể lên để giết chính nhân dân của nó vào năm 1989. Trong tương lai, ĐCSTQ cũng tuyệt đối không vì thay đổi bộ mặt của chúng, mà thay đổi các bản tínhlưu manh.

Nếu như có người nghĩ rằng sự việc đã qua thì để cho nó qua đi, và nay tình hình đã thay đổi, và rằng Đảng Cộng Sản ngày nay không như Đảng Cộng Sản thời trước nữa, mà thỏa mãn với giả tượng trước mắt; ngay cả còn tin tưởng một cách sai lầm rằng Đảng Cộng Sản đã cải thiện, hoặc đang trong sự cải tổ, hoặc có ý định muốn sửa đổi,  và từ đó mà không ngừng quên lãng sự việc quá khứ. Tất cả những điều này chỉ cấp cơ hội cho tập đoàn lưu manh của Đảng Cộng Sản Trung Quốc được tiếp tụcsống sót để làm hại nhân loại.

Tất cả mọi nỗ lực của Đảng Cộng Sản chính là muốn người ta “quên mất” sự việc quá khứ; mà mọi giãy dụa của nhân dân, trên nguyên tắc là muốn nỗ lực “ghi nhớ” những bất công họ đã phải chịu trong bàn tay của Đảng Cộng Sản.

 Trên thực tế, lịch sử của Đảng Cộng Sản là một phần tách rời khỏi lịch sử ký ức của người dân, là một lịch sử mà trong đó con cháu hậu thế không biết được lịch sử chân tướng của các ông cha đời trước, một lịch sử trải qua gian nan mà trong đó hằng trăm triệu công dân phải sinh sống trong mâu thuẫn giữa sự nguyền rủa cái quá khứ đầy máu của Đảng Cộng Sản với sự kỳ vọng cái hiện thực tương lai to tát của Đảng Cộng Sản.

Khi tà linh của chủ nghĩa Cộng Sản xuống tới thế giới nhân loại, Đảng Cộng Sản sau khi thành lập chỗ đứng trong nhân gian, thông qua cuộc khởi nghĩa lưu manh và cách mạng của bọn côn đồ mà chiếm đoạt chính quyền. Những gì nó đã làm, chính là thông qua chính quyền bạo ngược đầy máu tanh, mà thiết lập và duy trì một xã hội dưới hình thức chuyên chế của “Đảng phụ thể” ( là Đảng bị tà linh nhập vào điều khiển). Bằng cách sử dụng cái gọi là tinh thần “đấu tranh” mà phản Tự Nhiên, phảnTrời Đất, phản Nhân Tính và phản Vũ Trụ, Đảng Cộng Sản tiêu hủy lương tri và ý niệm thiện lành của con người, hơn nữa cũng tiêu hủy cả quan niệm đạo đức và văn minh truyền thống của nhân loại. Nó đã sử dụng tàn sát đẫm máu và cưỡng ép người ta tẩy não để chế tạo một tà giáo Cộng Sản, nhất thống thiên hạ, mà trong đó tất cả người dân đều điên cuồng.

Trong suốt lịch sử của Đảng Cộng Sản, có các thời kỳ điên cuồng ngang ngược khi khủng bố đỏ đạt đến cao điểm, cũng có các thời khắc tơi tả thảm hại, phải trốn vào đồng hoang vì gần bị diệt vong. Mỗi một lần, Đảng Cộng Sản lại phải dựa vào việctận dụng các trò lưu manh của nó để vượt qua cơn nguy cơ, nhưng chỉ để hướng tới một thời kỳ điên cuồng ngang ngược khác, mà tiếp tục lừa dối mọi người.

Một khi mọi người đều có thể nhận thức được bản tính lưu manh của Đảng Cộng Sản, và lúc không vì những giả tượng của nó làm mê mẩn và che lấp nữa, thì chính là lúc kết thúc cuối cùng của bản tính cực kỳ lưu manh của Đảng Cộng Sản Trung Quốc.

                           ******************

So với năm ngàn năm lịch sử của Trung Quốc, 55 năm Trung Quốc dưới ách thống trị của Đảng Cộng Sản Trung Quốc chỉ là những sự việc thoáng qua như mũi tên bay. Trước khi Đảng Cộng Sản Trung Quốc xuất hiện, Trung Quốc đã sáng tạo ra một nền văn minh huy hoàng nhất trong lịch sử nhân loại; sẵn dịp Trung Quốc có hoạn nạn trong nước đến từ bên ngoài, Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã thừa cơ mà ngồi lên nắm chính quyền, mang đến kiếp nạn to lớn cho dân tộc Trung Hoa. Loại kiếp nạn này, không chỉ vỏn vẹn cướp đi hàng chục triệu sinh mạng, phá tan tành giá trị của vô số gia đình, hủy hoại nhiều nguồn tài nguyên sinh thái mà sự sống còn của dân tộc Trung Hoa phụ thuộc vào, càng nghiêm trọng hơn nữa, là nền tảng đạo đức và truyền thống văn hóa quý giá của dân tộc  Trung Hoa, cũng bị phá hoại tới tận cùng.

Tương lai của Trung Quốc sẽ ra sao? Trung Quốc sẽ đi về hướng nào? Những vấn đề quan trọng như thế thật phức tạp mà lại quá khó để bàn thảo trong một vài câu. Tuy nhiên, có một điểm chắc chắn rõ ràng là: nếu không coi trọng sự xây dựng đạo đức của dân tộc Trung Hoa, không coi trọng sự tân lập mối quan hệ hài hòa, sáng tỏ giữa người với sự Tự Nhiên, và với Trời Đất; và nếu không có tín ngưỡng và văn hóa cho sự chung sống hài hòa giữa người với người, thì dân tộc Trung Hoa sẽ không thể có một ngày mai tươi sáng.

Qua bao nhiêu thập niên để tẩy não và đàn áp, Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã đem lối suy nghĩ của nó cùng với tiêu chuẩn về Thiện và Ác của nó mà ép vào trong tầng thâm sâu của sinh mạng người dân Trung Quốc. Điều này đã dẫn người ta đến chỗtiếp nhận nó trên một mức độ nhất định, và còn nhận thức những lý luận sai lệch giống như nó, và trở thành một phần của nó, vì vậy đã giúp Đảng Cộng Sản Trung Quốc được tồn tại trong nền tảng ý thức hệ của họ.

Trừ sạch tất cả các tà thuyết đã truyền bá của Đảng Cộng Sản Trung Quốc trong đời sống của chúng ta, nhìn rõ bản chất đầy đủ thập ác tột cùng của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, khôi phục lại nhân tính và lương tri của chúng ta – đây là bước thứ nhất cần thiết trên con đường phải đi để vượt qua một cách thuận lợi sang một xã hội không có Đảng Cộng Sản.

Tiến bước trên con đường này có thể đều đặn và bình an hay không, thì còn tùy thuộc vào những thay đổi trong tâm hồn của mỗi một người Trung Quốc. Tuy rằng Đảng Cộng Sản Trung Quốc bề ngoài đã nắm hết tất cả các tài nguyên và bộ máy bạo lực của quốc gia, nhưng nếu mỗi một người trong chúng ta đều tin vào sức mạnh của chân lý và gìn giữ vững chắc đạo đức của chúng ta, thì tà linh Đảng Cộng Sản Trung Quốc sẽ mất đi chỗ trú thân, tất cả các tài nguyên có được, có thể lập tức trở về trong tay của chính nghĩa, đó cũng chính là thời khắc tái sinh của dân tộc chúng ta.

Không có Đảng Cộng Sản Trung Quốc, mới có thể có một Trung Quốc mới.

Không có Đảng Cộng Sản Trung Quốc, Trung Quốc mới có hy vọng.

Không có Đảng Cộng Sản Trung Quốc, nhân dân Trung Quốc với chính nghĩa thiện lương sẽ xây lại sự huy hoàng của lịch sử.

Chú Thích

[1] Theo tư tưởng Nho giáo truyền thống, hoàng đế hoặc vua cai trị theo ý trời, và để có được cái quyền đó, đạo đức của họ phải xứng với trách nhiệm tối cao đó. Một tư tưởng tương tự có thể thấy từ tác phẩm Mạnh Tử. Trong đoạn “Ai trao quyền lực của vua?” khi được hỏi ai trao đất đai và quyền cai quản cho vua Thuấn, Mạnh Tử đã nói “Đó là Trời”. Quan điểm về nguồn gốc sức mạnh thần thánh có thể thấy trong truyền thống Cơ Đốc giáo phương Tây. Ví dụ trong Romans 13:1 của tác phẩm Kinh Thánh (phiên bản King James) người ta có thể tìm thấy: “Hãy để mọi linh hồn lệ thuộc vào các quyền lực tối cao. Vì không có quyền lực nào ngoài quyền lực của Chúa: các quyền lực đó là được Chúa ban cho”.

[2] Một trung tâm là nói đến phát triển kinh tế, hai cơ bản là: duy trì bốn nguyên tắc cơ bản (con đường xã hội chủ nghĩa, chuyên chính vô sản, sự lãnh đạo của ĐCSTQ, tư tưởng Mao và Mác xít Lê nin nít), và tiếp tục các chính sách cải cách và mở cửa.

[3] Dữ liệu từ một báo cáo của Tân Hoa Xã vào ngày 4 tháng 3 năm 2004.

[4] Mẫu là một đơn vị diện tích được sử dụng ở Trung Quốc. Một mẫu bằng 6,666.666 mét vuông.

[5] Phú dưỡng: gia tăng chất hữu cơ và khoáng vật trong nước, có thể thúc đẩy sự sinh trưởng của thực vật nhưng lại giảm lượng oxygen hòa tan trong nước và thường dẫn đến sự tuyệt chủng của các sinh vật khác. Dữ liệu từ một báo cáo của Tân Hoa Xã vào ngày 29 tháng 2 năm 2004.

[6] “Nguyên tắc ba không” đã xảy ra trong quá khứ. Vào năm 1979, Đặng Tiểu Bình đã đề xuất “Nguyên tắc ba không” để khuyến khích nhân dân nói lên tâm tư của họ: Không gán nhãn hiệu, không tấn công, và không xem xét lỗi lầm. Điều này cũng nhắc người dân nhớ tới sự khuyến khích tương tự của Mao đối với giới trí thức vào những năm 1950, cái khuyến khích mà đi sau đó là khủng bố tàn nhẫn những người dám nói lên suy nghĩ của mình. Ngày nay, “Ba không” mới được đề xuất nói đến “Phát triển không bàn luận, tiến bộ không đấu tranh, và tiến triển không thỏa mãn những thứ đã đạt được”.

[7] Nghị định 23 được chính phủ Hồng Kông đưa ra vào năm 2002 dưới áp lực từ Bắc Kinh. Nghị định này đã cho thấy một sự xói mòn nghiêm trọng về tự do và nhân quyền ở Hồng Kông, phá hoại ngầm chính sách “một đất nước, hai hệ thống”.

[8] Lưu Thiếu Kỳ, Chủ tịch nước Trung Quốc giữa những năm 1959 đến 1968, được coi như là người kế vị của Mao Trạch Đông. Trong Cách Mạng Văn Hóa (1966-1976), ông ta đã bị đàn áp như là kẻ phản bội, gián điệp và nổi loạn. Ông chết vào năm 1969 sau khi bị hành hạ nghiêm trọng dưới hình phạt tù của ĐCSTQ.

[9] CCTV ( Đài Truyền Hình Trung Ương Trung Quốc) nằm dưới sự sở hữu và điều hành trực tiếp của chính phủ trung ương. Nó là mạng truyền thông chính ở lục địa Trung Quốc.

[10] Tất cả những đoạn được trích này là nhan đề của các bài hát được viết và hát dưới thời của Mao trong những năm 1960 và đầu những năm 1970.

[11] Mao đã từng nói rằng ‘chúng ta sợ phạm lỗi, nhưng chúng ta quan tâm tới việc sửa chúng’.

[12] Về phân tích chi tiết của phim video tự thiêu, xin hãy tham khảo trang web sau:

http://daiphapinfo.net/dsp.php?id=8,

http://clearwisdom.net/emh/special_column/self-immolation.html,

http://faluninfo.net/tiananmen/immolation.asp.

[13] Kiến trúc thượng tầng trong ngữ cảnh của lý thuyết xã hội Mác-xít nói tới quan hệ giữa tính chủ quan của con người và nền tảng vật chất của xã hội.

[14] Đây là một tục ngữ Trung Quốc thừa nhận sự vĩnh cửu của bản tính con người.

[15] Các chính sách cải cách kinh tế, được biết tới như là chương trình “Ba Tự Do và Một Giao Ước” (Tam Tự Nhất Bao) được đề xuất bởi Lưu Thiếu Kỳ, sau đó là Chủ Tịch nhà nước của Trung Quốc. Chương trình đã quy định đồ án về đất đai dành cho sử dụng riêng tư, thị trường tự do, các doanh nghiệp chỉ có trách nhiệm đối với lãi và lỗ của nó, và việc cố định chỉ tiêu sản lượng trên cơ sở gia đình.

Copyright © 2004 DAJIYUAN.COM, báo Hoa Ngữ DAJIYUAN

HẾT

Trở Về

Tìm Kiếm