…..

Doãn Quốc Sỹ
Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến
Phần I
Chương 8
TRÊN BỜ VỰC LỊCH SỬ

Chợt thức giấc ra vườn dưới ánh trăng tà gần về sáng nghe tiếng sáo diều buồn hiu hiu, nghe điệu đò đưa thổn thức như bốc lên tự lòng đất ghi nhận sự bất tuyệt của tình quê, rồi Kha cũng phải trở vào nhà, ngả lưng xuống phản, đắp chăn ngang bụng, để mặc cho ý nghĩ lông bông rồi chợp ngủ lại … Khi chàng sực dậy đã có tiếng lách cách dọn cơm.
Nhà quê vì việc cày bừa vất vả nên có thổi bữa sáng, mâm cơm thịnh soạn mà thân mật với những thức ăn dư hôm trước được đun lại. Lâu lắm Kha mới được vục mặt vào chậu nước mưa trong vắt đầy ắp và hầu như có phảng phất hương cau hương nhài. Rồi ba chú thím cháu vừa ăn vừa ôn lại chuyện mời mọc hôm qua xem có điều gì khuyết điểm không. Ăn xong cũng đã tám giờ sáng, trong khi ông bà Hạo sửa soạn đi thăm đồng, Kha tạm biệt chú thím ra Hà Nội. Khi qua cổng nhà Thi, Kha đã thấy Thi từ trên hiên bước xuống tới chàng. Nàng hỏi:
– Anh ra phố?
Kha gật đầu âu yếm đáp:
– Anh phải ra phố sớm để kịp soạn bài dạy buổi chiều.
– Em tiễn anh một quãng.
Thi đi bên Kha, nhỏ bé.
– Đêm qua em ngủ ngon giấc?
– Cám ơn anh, khá.
Đi qua cổng chùa một chút Kha dừng lại bảo Thi:
– Thôi em yếu đừng tiễn anh xa lát nữa về một mình mệt.
Thấy không có bóng người, Kha dịu dàng cầm tay Thi:
– Vả lại sớm nay lành lạnh, em nên trở lại nằm nghi, tuần sau anh về.
Thi ngoan ngoãn vâng lời.
Ra tới Hà Nội, Miên đã đi làm, buổi đầu tiên của nàng tại nhà thương Phủ Doãn. Kha thấy Hiển ngồi thừ trước bàn, tay cầm mẩu giấy nhỏ. vẻ thẫn thờ của Hiển làm Kha chột dạ. Kha hỏi:
– Có việc gì thế Hiển?
Hiển lắc đầu ngao ngán:
– Tôi thật ngu như bò, lúc vào đây thực thà khai văn bằng, bây giờ nó bắt vào Nam theo học lớp sĩ quan Thủ Đức. Giấy vừa nhận sáng này đây!
Kha chỉ thốt được tiếng “hừ”, chưa biết tính sao, Hiển đã nói:
– Chúng mình đến thăm Hãng, cả ba cùng bàn xem sao.
– Nếu vậy nên đi ngay!
Hãng có nhà và khi hay tin Hiển bị gọi đi theo học lớp sĩ quan Hãng cũng thốt tiếng “ủa” ngạc nhiên, thành thử ba người gặp nhau cho ấm lòng thôi, chứ cùng vô kế khả thi. Hiển nói:
– Đây mới là giấy gọi lần đầu, còn thì giờ xoay xở. Ban sáng ông Cai hàng xóm trước khi đi làm, thấy tôi nhận được giấy này bèn góp ý là tôi nên thi vào làm thông ngôn trong thành, thi xong chi một tháng sau đi làm và đóng đội ngay, như vậy tránh được lệnh động viên này.
Đôi mắt Hãng bỗng trợn tròn, miệng há hốc rồi nói ngay:
– Ấy chớ! Nhục! Nhục, thật là nhục!

 

Thoạt Kha và Hiển chưa hiểu sao, nhưng khi nhớ lại những lời trước đây Hãng thường cau có thốt ra thì cũng mang máng đoán được phần nào.
Thì ra con đường đó chính là con đường Hãng đã đi. Bỏ “ngoài kia” vào thành, gặp lúc buôn bán khó khăn, mẹ túng, lại thêm vấn đề động viên, Hãng vào làm interprète ( thông dịch) đồng hóa chân sergent trong quân đội. Thoạt Hãng ngỡ là chỉ việc ngồi tại phòng nhì – (cái tên nghe đã gây nhiều ác cảm) – dịch tài liệu ai ngờ họ còn có quyền bắt đi “ốp” (opération). Lần thứ nhất đi theo chiến dịch Hãng được xếp ở một trại lọc tù binh – camp de triage. Các thầy đội thông ngôn mỗi người một bàn, tù binh – những người dân tại các làng lân cận đủ nam phụ lão ấu bị quây dẫn về- xếp thành từng hàng dài, các thầy hỏi mấy câu theo chỉ thị, rồi tùy theo sự nhận xét của mình phát cho tờ phiếu xanh hay đỏ (nguy hiểm hay không) nhốt vào hai nơi riêng. Người dân quê vốn giàu nhận xét thực tế, thấy phiếu đỏ phát cho những người già, những người tàn tật thi họ đoán ngay là những người phiếu đỏ sẽ được thả sớm bèn ăn cắp của nhau những phiếu đỏ đó ngay khi còn trong hàng, thế là những lời than khóc, cãi cọ làm sốt tiết một vài thầy đội thông ngôn đương hỏi cung, những đường gậy giáng xuống đầu, những dòng máu đỏ tươi rỉ ra chảy xuống, quện đặc lại, tím đen dần bện vào mớ tóc rối bản bên màu da vàng xỉn… Bức tranh điêu linh còn đó chỉ phản ảnh được muôn một thảm trạng mênh mông rộng lớn mà người dân quê Việt đương phải chịu đựng. Lần thứ hai Hãng đi “ốp” theo sát hẳn đại đội hành quân càn quét. Hãng dừng lại cùng bộ tham mưu bên một nhà thờ nghe bộ phận truyền tin gọi chasse- khu trục cơ. Mười lăm phút sau bốn chiếc Hell Cat thay phiên nhau rú máy nhào xuống thả bom napaim rồi nã liên thanh xuống khu đồi sừng sững ngay trước mặt. “Thực là như ciné!” – một người nói vậy. Sau phần can thiệp của khu trục, bộ binh từng đợt tiến lên chiếm lĩnh ngọn đồi, thường thì quân đội chính quy đã rút lui, chỉ còn người dân giơ đầu chịu báng. Các thầy đội thông ngôn có việc làm, những người dân bị dẫn tới, các thầy hỏi về tình hình địch, quân số địch khi họ chưa rút lui. Hãng còn nhớ lắm đặc biệt lần đó người ta dẫn đến trước Hãng một cô gái quê, khuôn mặt sầu khổ, đôi môi mím, đôi mắt luôn luôn gợn ánh căm hờn, Hãng chợt chú ý đến chiếc quần của cô mặc trái, đũng có thắm chút máu. Nàng mới bị cưỡn đoạt trinh tiết không bao lâu. Mặc dầu lời hỏi của Hãng rất dịu dàng lễ độ, nhưng dịu dàng lễ độ như vậy để làm gì? Cứu gỡ được gì cho người con gái? Thay vì lời hỏi lẽ ra Hãng phải lớn tiếng tự nguyền rủa mình đã là thầy đội thông ngôn, nhân viên phòng nhì của quân đội viễn chinh Pháp… Lần thứ ba đi “ốp”, Hãng phải theo bộ chỉ huy tiến sâu và mở rộng các mũi dùi vào một miền đồng bằng. Trên các tường đình, chùa, miếu nào đều có ghi khẩu hiệu địch vận tiếng Việt có, tiếng Pháp có, dọc đường tiến quân rải rác những truyền đơn địch vận. Hãng nghĩ trước đây mình đã từng chỉ huy cơ quan địch vận, việc làm chính đính vằng vặc như trăng sao, giờ đây lật ngược hoàn cảnh, chàng lại ở về phía địch làm thầy đội thông ngôn phòng nhì, thật là bỉ ổi. Chàng có thể dẫm phải mìn mà tan thây, có thể bị phục kích mà nằm gục trên vũng máu đỏ, thật ô nhục, chết cho bộ đội viễn chinh, kẻ thù đương muốn cướp lại đất nước mình. Trong chuyến đi “ốp” này, Hãng thực mục sở thị cảnh những xe lội nước theo lệnh dàn thế trận rồi bắn như mưa vào một làng, những cây tre rập gục, thấp thoáng mấy con trâu con bò vùng chạy lúng túng rồi ngã khuỵu dưới làn đàn chằng chịt bừng bừng sát khí. Rồi bộ binh tiến vào làng, vắng teo. Và những khẩu hiệu những truyền đơn! Một binh sĩ chui vào một cái hầm rộng buộc thừng vào cổ chân một người chết, kéo ra ánh sáng: một cụ già đầu tóc bạc phơ vẻ mặt phong lưu, người cụ không một thương tích chắc vì hầm nông quá, hơi bom đạn dội vào mạnh quá làm cụ đứt mạch máu đầu. Rồi đây quân đội rút đi, cái xác còn lại, con cháu về khóc lóc, chôn cất, hận thù bao giờ nguôi? Tát cả đồng quê chìm ngập trong hận thù như vậy, thứ hận thù chính đáng rõ rệt như trắng với đen. Quân đội viễn chinh xì xồ nói tiếng ngoại quốc ra lệnh bắn giết triệt hạ để hòng tái chiến. Hãng ở phía quân đội đó, thực là sỉ nhục! Chua chát mỉa mai hơn nữa là nếu miền này hoàn toàn dưới chính quyền vững chắc của cán bộ Việt Minh thì chỗ đứng của cụ già phong lưu kia lại là … đấu trường, vậy xung quanh cụ không là lửa đạn nhưng là những cán bộ tam cùng, người nguyền rủa cụ chẳng là thứ tiếng xì xồ ngoại quốc mà là tiếng nói biến dạng của lũ con cháu đã được Đảng giáo dục lại …

 

Buổi chiều hôm đó bộ đội “ốp” đóng quân trong một làng khá dài và rộng. Tiếng lợn eng éc, tiếng gà quang quác … có tên da đen lục lọi tìm được máy quả trứng tươi trong ổ gà đẻ. Cùng buổi chiều đó Hãng chứng kiến một “sen” hồi hộp suýt thành bi thảm. Quân đội tạm đóng chia nhau bố trí canh gác quanh làng. Hãng phải ra đầu làng hỏi cung một thanh niên mới bị bắt giải về. Người thanh niên ít tuổi hơn Hãng, khuôn mặt sáng sủa, đôi mắt ranh mãnh, nụ cười cố làm ra ngờ nghệch. Hãng đoán ít nhất cũng là trưởng ban tuyên truyền hay trưởng ban địch vận chi đây. Chàng làm mặt nghiêm hỏi:
– Tên anh là gì?
Anh chàng làm bộ khúm núm đáp:
– Bẩm quan tên con là Trần Văn Thiên.
Hãng cố dấu nụ cười vì chàng thấy ánh mắt kẻ đối diện thoáng tia dí dỏm, chàng đoán song song với câu “bẩm quan” trên phải là câu chửi đổng kèm theo một lời nguyền rủa ngầm bên trong. Hãng lại làm mặt nghiêm hỏi:
– Có phải anh là cán bộ tuyên truyền?
– Dạ bẩm quan không ạ.
– Anh là cán bộ địch vận?
– Dạ bẩm quan không ạ, lạy quan thương tình.
Nếu lật ngược tình thế- Hãng nghĩ thầm- chàng thanh niên này bắt được Hãng, y chỉ cần biết đơn giản là Hãng làm ở phòng nhì nhất định y ra lệnh xử bắn ngay, không một chút thắc mắc, mà chính Hãng trong trường hợp đó cũng không hé một lời van xin, một phần vì biết van xin cũng chẳng được, một phần Hãng cho rằng rủi mình bị bắt, chết cũng đáng đời mặc dù chàng chẳng làm điều gì ác, mặc dù cha chàng bị tụi chúng bức tử. Chàng cho rằng riêng việc mình đứng trong hàng ngũ quân cướp nước- dù là đứng hờ- cũng đáng chết rồi.
Sau một phút đờ đẫn Hang sực định thần bắt chợt ánh mắt riễu cợt của đối phương. Có thể là y đương quan sát lại Hãng và tưởng tượng cảnh lật ngược thế cờ xử bắn Hãng. Hãng mỉm nụ cười buồn rầu, chàng giao trả y cho quân độj canh giữ, vừa lúc có máy người lính vác tiểu liên chạy rầm rập theo đường lớn ra khỏi làng một quãng rồi lên một gò cao, nơi có bố trí lính canh. Thì ra họ rọi ống nhòm thấy có ba người dân đương tiến về làng. Hãng theo chân bọn lính lên gò. Tiếng nói chuyện của ba người dân càng ngày càng rõ dần, giọng họ trong trẻo, vui vẻ, đượm chút hài hước mà không ngờ rằng đương đi vào tử địa. Khâu tiểu liên đã được đặt trên chiếc giá ba càng vững chãi, mũi súng chĩa về phía ba người xa, những người lính nằm nép xuống … rình mồi. Tiếng nói của ba người đã rõ hẳn, họ đương thuật lại cho nhau nghe việc chạy loạn sáng này. May thay, cả ba rẽ xuống con đường nhỏ. Thì ra không phải họ tiến thẳng về làng hiện bị chiếm, họ rẽ xuống làng đối diện. Lập tức người tiểu đội trưởng cho lệnh bắn, khẩu tiểu liên khạc lửa, tiếng nổ vang dội trong bóng chiều, ba người dân vùng chạy cuống quýt lảo đảo nhưng vẫn giữ vững hướng tiến thẳng về phía trước mặt, họ bỏ đường mòn, lội ùa xuống ruộng lúa, tiểu liên tiếp tục khạc lửa, tiếng những bước chân bì bõm lội nhanh, nước bắn tung tóe. Hú vía, cả ba đã thoát xa tầm súng… Họ sẽ nhớ đời đời chiều nay. Ngày mai, ngày mốt họ sẽ kể lại chuyện này cho con cháu nghe, câu chuyện hào hứng biết là chừng nào, còn gì hào hứng hơn là chạm trán rồi chạy đua với Thần Chết? Rồi từ đây cho đến ngày họ lìa bỏ cõi đời trên giường bệnh làm sao họ quên đựợc chiều hôm nay, tất nhiên thỉnh thoảng họ phải ôn lại, thuật lại. Chuyện thoát chết càng xa ngày, lời kể càng linh động vì thêm những chi tiết hoang đường hơn một chút.
Hôm sau, quân đội tiếp tục cuộc hành quân càng quét. Vừa khi gặp đường cái quan đưa về thị xã thì Hãng hay tin anh chàng trẻ tuổi tinh ranh bị hỏi cung chiều hôm trước đã trốn thoát.
Không đi “ốp” ở lại bàn giấy cũng chẳng thanh thản gì hơn. Đương dịch tài liệu có thể một sĩ quan Pháp đưa đến một nqười vừa bị tra tấn xong mặt mũi sưng húp để hỏi cung lại, mình thông ngôn. Có thể một nguời mới quy thuận được gọi tới đưa sang phòng không quân. Nơi đây Hãng thông ngôn cuộc gạn hỏi về địa điểm những cơ quan kháng chiến. “Gần con đường Thái Nguyên Bắc Kạn phải không? Gần suối lớn không? Gần núi không? Bên phải núi hay bên trái? Có phải vào khoảng này không?” Những tấm hình lớn chụp từ máy bay xuống được đem ra sử dụng -phòng Nhì Pháp đã chụp hết lãnh thổ Việt Nam. Nếu kẻ kia nhận ra địa điểm gật đầu (hay gật đầu liều) thì viên sĩ quan tình báo khoanh một dấu tròn bằng bút chì xanh hay đỏ để đưa sang phòng chiến dịch ủy nhiệm cho các loại phi cơ phóng pháo đi oanh tạc.
“Nhục, thật là nhục!” Hiển vẫn hằng nghe câu nói đó thốt ra tự miệng Hãng, khuôn mặt phong trần của Hãng lúc đó có một vẻ gì sót sa khôn tả. Cho đến hôm nay nhân lời nói của Hiển muốn thi vào làm thông ngôn trong quân đội viễn chinh để tránh đi lớp sĩ quan Thủ Đức, Hãng mới bộc lộ hết cả. Hãng kết luận với Hiển:
– Anh nên đi theo lớp sĩ quan đó. Anh biết đấy, trước đây Pháp nó có dám cho chúng ta học chỉ huy quân sự đâu, chỉ được làm lính chết thay cho nó thôi, nay gặp dịp nó phải nhả ít quyền hành chính và quân sự mình nên lợi dụng học lấy, rồi khi ra đã là sĩ quan, dưới anh có bộ đội, ít nhất anh cũng được quyết định theo lương tri của anh để chống lũ cộng sản mà ít làm thương tổn đến dân chúng. Lóc những thớ thịt nhiễm độc cộng sản trong toàn cơ thể miền quê mình hiện nay là một công việc vô cùng tinh tế, không phải là sĩ quan Việt Nam đã sống với và đã lọt khỏi cộng sản rồi, không thể làm nổi. Anh nghe tôi, hãy cứ đi đi. Chúng ta đâu có chịu tiếp tay cho thực dân cướp nước? Contrat đầu tiên ba tháng tôi làm “thầy đội thông ngôn” trong phòng nhì Pháp, tôi cũng đã lợi dụng được tờ giấy chứng nhận là quân nhân để nhờ một người bạn đồng học hiện làm ở Bắc Bộ Phủ vận động cho được cái học bổng qua Pháp tiếp tục học Luật. Mọi công việc đã xong, học bổng đã được cấp, contrat (hợp đồng) ba tháng của tôi vừa hết, tôi vừa báo tin cho mẹ tôi hay là tuần sau tôi lên đường, bây giờ đến các anh hay đó.
Kha sung sướng nắm tay Hãng.
– Trời ơi, sao cậu kín đáo thế, gần đến phút cuối cùng mới cho mọi người hay.
Hãng cười khà:
– Biết làm thế nào, vì chính tôi trong lúc chờ đợi cũng hồi hộp không biết là có được hay không.
Hiển nói:
– Thôi chúng ta đến tòa soạn Văn Hóa đi. Tôi cần gặp các anh Khiết, Khóa một chút.

 

II

 

– Trời ơi anh Kha kìa, anh cũng đã vào đây?
– Ủa Tân!
Họ nhận ra nhau ngay sau một lần gặp nhau ngày nào và sau bao nhiêu năm cách biệt.
– Bây giờ anh ở đâu, làm gì? Tân hỏi tiếp.
– Dạy học, làm báo, còn anh?
– Tôi ấy à – Tân cười nửa vui nửa buồn – thất nghiệp!
– Sao, thất nghiệp? Anh vào đây đã lâu chưa?
– Nghĩa là mới thất nghiệp thì đúng hơn. Tôi vào đây được tám tháng rồi.
Kha trợn tròn mắt:
– Trời, anh vào được tám tháng rồi. Tôi vào được ngót ba tháng, sao chúng mình không gặp nhau?
– Có lẽ tại những ngày gần đây tôi phải đi đây đi đó luôn theo nhà thầu.
– Anh đã về thăm quê bên Bắc Ninh chưa, cụ nhà ra sao?
Tân cảm động nhìn Kha, thì ra Kha không quên một điều gì, chàng đáp:
– Dạo đó chia tay cùng anh ở Phú Thọ, tôi về quê may được gặp mẹ tôi lần chót, vài ngày sau người mất. Tôi muốn về thăm làng lắm nhưng chưa được, làng tôi hiện nay nằm giữa vòng đai trắng của hai miền.
– Mệt quá nhỉ, thế trước đây anh thầu gì?
– Tôi làm cho một nhà thầu xây cất, tôi mới thôi được nửa tháng nay.
– Ồ, thế tôi sẽ giới thiệu anh với một nhà thầu khác.
Ánh mắt Tân hốt hoảng, nhưng chàng tiếp:
– Tôi cũng vừa thi tương đương ở trường thuốc xong, họ nhận niên khóa sang năm cho phép tôi được học lại năm thứ tư.
– Trường thuốc cũng cho thi tương đương sao?
– Bác sĩ Henri H. người Pháp đặc biệt có cảm tình với sinh viên kháng chiến vì vậy mà tôi cũng đỡ thiệt. Bác sĩ H. muốn tôi phải đi nhà thương thực tập ngay từ bây giờ và suốt vụ hè sắp tới; tôi thú thật với ông ta là tôi mới về đây, tứ cố vô thân, cần phải kiếm tiền gấp từ nay cho đến đầu niên khóa sang năm mới có đủ điều kiện tiếp tục việc học. Bác sĩ H. thông cảm ngay!
Hôm qua đây Hiển, Hãng, Kha đã gặp Khiết, Khóa, vừa may gặp cả Luận mới ở Vĩnh Yên về thủ đô công tác và tạt vào tòa báo đưa bài, thế là cả “gia đình Văn Hóa” hay tin Hãng sắp đi Pháp và Hiển có thể đi Thủ Đức. Chính Luận cũng khuyên Hiển: “Anh đừng vào làm – dù là làm tạm- trong Deuxième bureau (văn phòng thứ hai) của Pháp, mang tiếng lắm, anh cứ theo lớp sĩ quan đi, khi ra trường có quân đội trong tay, sĩ quan Tây cũng không dám bắt nạt mình, trái lại bấy giờ chúng nể mình lắm và minh có toàn quyền hành động”. Khóa tiếp lời Luận, bảo Hiển:
– Tình thế đâu có tranh tối tranh sáng thế này mãi, tôi linh cảm tháy vận hội đất nước đương chuyển mình, anh Hiển hãy vào Thủ Đức đi.
Khiết trầm ngâm gật đầu:
– Anh Khóa nói đúng, anh Hiển yên tâm đi Thủ Đức đi, sau một vài năm nữa tới ngày mãn khóa biết đâu chẳng đã có những biến cố lớn, khi đó mình quyết định thái độ dễ hơn.
Câu chuyện còn kéo dài một tiếng nữa, tuy đã tìm ra lối giải quyết tạm ổn, nhưng bầu không khí không vì thế mà bớt vẻ băn khoăn. Rồi mọi người giải tán. Khiết đến nhà in thăm khuôn báo mới; Khóa về nhà đặt lại con tính xây cất (Khóa dự định thầu xây cất trường trung học tại Hưng Yên); Hãng trở về sửa soạn hành trang cho ngày lên đường vào chủ nhật tới. Hãng biết sự ra đi của mình- dù là đi du học Pháp- cũng làm người mẹ cô độc và đáng kính của chàng càng sầu khổ vì bên sự thương chồng nay còn thêm niềm nhớ con; Hiển, Kha trở về để còn gặp Miên, hỏi Miên về công việc nàng mới tới nhận tại nhà thương Phủ Doãn và báo cho Miên hay tin Hiển quyết định đi Thủ Đức.
Hôm sau Kha dạy học xong ở trường ra, chàng đến thẳng tòa báo tính chuyện bàn với Khiết hoặc Khóa về bữa tiệc tiễn hành Hãng, Hiển lên đường. Vừa tới bến xe điện Bạch Mai sát bờ hồ thì bất chợt gặp Tân… Biết Tân đã thi tương đương để được ghi tên theo học năm thứ tư trường thuốc trong niên học tới, lại biết Tân đương thất nghiệp và đã quen với công việc nhà thầu, Kha bèn kéo tuột Tân theo đường Bờ Hồ ngược trở lại phía hội Khai Trí Tiến Đức, nói:
– Anh đã quen với nghề thầu rồi, hay lắm, tôi sẽ giới thiệu anh ngay với một nhà thầu khác.
Tân há hốc mồm vẻ lo ngại ra mặt:
– Anh Kha này… hay là thôi anh ạ… cám ơn anh…
Kha vẫn kéo Tân:
– Cám ơn cái gì? Sao anh khách khí thế?
– Tôi… tôi…
Vì quý mến Kha, Tân không muốn nói thẳng là chàng “tởm” nghề thầu quá rồi, e phật lòng bạn, nhưng Kha hầu như chẳng để ý gì đến sự ngập ngừng đó, hoặc giả Kha vẫn đinh ninh là Tân ngại phiền mình nên chàng vẫn kéo bừa Tân đi:
– Anh hãy theo tôi đến tòa báo Văn Hóa đã.
“Ừ thì hay đến tòa báo Văn Hóa rồi minh liệu lời nói với bạn sau vậy”- Tân nghĩ thầm thế, rồi đi.
Tân theo Kha sang đường, ngang qua xe bán đồ giải khát đậu ở góc ngã ba, tiến theo con đường nhỏ tới tòa soạn tuần báo Văn Hóa. Đó chính là căn nhà Khiết ở xế chếch với cửa hàng của bà Đô. Nghe Kha reo mà Tân thấy chán ngán:
– Kìa anh Khóa, may gặp anh ở đây. Anh bạn thân này của tôi cũng làm nghề thầu quen rồi.
“Thằng cha này đến hay- Tân nghĩ thầm- hẳn giới thiệu như thể mình là chủ thầu”.
Tòa soạn Văn Hóa lúc đó chỉ có hai người đàn ông, người thư ký đánh máy đã đi phát báo tới địa chỉ những người mua năm.
Kha tiếp tục nói:
– Giới thiệu hai anh đây là anh Tân, bạn kháng chiến của tôi, đây là anh Khóa hiện vừa là nhà buôn, vừa là chủ thầu (Tân chẳng buồn nhìn mặt), đây là anh Lãng phóng viên của tuần báo Văn Hóa. (Tân nhận thấy Lãng cao lớn trắng trẻo như tây, râu quai nón mới cạo xanh om, ánh mắt thì vui dí dỏm nhưng nụ cười thì buồn).
Tới lúc bắt tay nhau, Tân mới trễ nải ngẩng nhìn khuôn mặt vuông chữ điền với nước da rám nắng phong trần của Khóa. Tay Khóa cầm một cuốn sách thấp thoáng dòng chữ bìa in màu đỏ.

 

Kha hỏi Lãng:
– Anh Khiết không có nhà?
– Khiết đến Etude – Khóa đáp.
– Chị Khiết đâu?
– Nó ở đằng mẹ tôi! – vẫn lời Khóa đáp.
Chú bé chừng lên tám ở nhà bên nhân lúc vắng người ra máy nước tắm rồi khum khum tay che hạ bộ. Lãng cười lớn hỏi:
– Tuynh, tắm hả?
Chú bé chào lại:
– Anh ạ!
Lãng cười lớn hơn:
– Bằng quả ớt ấy che che dấu dấu cái gì!
Chú bé ngượng chạy vào nhà.
– Trước đây anh cũng đã làm nghề thầu?
Giọng Khóa hỏi vồn vã nhưng Tân thấy bực mình vô cùng, chàng đáp lạnh lùng:
– Tôi chỉ làm thư ký cho một nhà thầu.
Kha nói với Khóa:
– Niên khóa sang năm anh Tân sẽ tiếp tục học năm thứ tư trường thuốc nên anh cần kiếm tiền gấp khoảng thời gian mấy tháng này, anh có thể dành cho anh Tân một chân thư ký?
Khóa đáp:
– Được chứ, nếu anh Tân điều khiển việc thành thạo thay được tôi thì tôi trở lại đất Lào tiếp tục việc buôn.
– Anh còn buôn ở đất Lào? – Tân hỏi.
– Vâng, nghĩa là đi đi lại lại trên con đường hàng không Xiêng-Khoảng Hà Nội.
– Anh buôn gì?
– Tôi thuê trọn chuyến phi cơ, chuyến đi chờ xi măng essence, sắt sang Lào, chuyến về thì chở bò. Có hàng đi có hàng về nên chuyên chở bằng phi cơ vẫn có lãi.
Biết Khóa là người có tài tổ chức, Tân hỏi thêm:
– Anh chở bò sống từ Lào về đây?
– Vâng chở nguyên con! Chuyến đầu tôi thuê hẳn chiếc Bristol của hãng hàng không Việt Nam chở được hai mươi con từ Xiêng-Khoảng về Hà Nội, sau đó vì tình trạng chiến tranh, các phi cơ của hãng hàng không Việt Nam bị trưng dụng, tôi phải điều đình với hãng Autrex hàn sửa lại chiếc Junker để có thể chở được tối đa mười con bò- bằng phân nửa chiếc Bristol… ô kìa, Khiết đã về kìa!
Khiết vào. Lại một dịp Kha giới thiệu Tân. Tiếp đó Kha hỏi:
– Anh ở étude về?
– Không tôi đi nghe ngóng tinh hình báo của mình, khá lắm! À anh Khóa, việc anh thầu xây cất ở Hưng Yên ra sao?
Nghe đến ba tiếng “thầu xây cất” mà Tân tháy chán ngán, mặc dầu khi nãy nghe Khóa nói chàng đã bớt thấy ác cảm với “người con buôn kiêm nhà thầu” đó (chỉ cần một trong hai nghề đã đủ chàng muốn kính nhi viễn chi rồi).
Khóa đáp lời Khiết:
– Xong rồi. Anh bạn bí thư của ông tỉnh trưởng Hải Dương có gửi thư riêng sang giới thiệu nên họ tin tôi ngay.
“Tin nhà thầu- Tân nghĩ thầm- để rồi bán thóc giống đi mà ăn!” Và Tân lại thấy hậm hực với Khóa.
Nguyên do sau ngày tâm thần bị khích động về vụ bàn tay gián điệp thực dân tung tiền muốn bố trí trước một chính phủ lưu vong, Khóa từ chức hội viên hội đồng thành phố. Kể từ đó Khóa luôn luôn cảm thấy có móng vuốt của đế quốc thực dân bám vào da thịt các nhược tiểu quốc. Hễ một ung nhọt được duy trì, một mầm chia rẽ được ươm nuôi… linh tính như báo cho Khóa hay rằng đó đều là những trái mìn tinh thần do bàn tay hiểm ác của đế quốc thực dân bí mật đặt khéo để ngăn chặn bước tiện của dân ta. Cho nên Khóa hết sức giúp Khiết xúc tiến việc ra báo, hơn bao giờ hết, lúc này cần có một tiếng nói quang minh chính đại. Từ chức hội viên hội đồng thành phố, Khóa thầu xây cát trường trung học rọi trường mẫu giáo ở Hải Dương, kế đó Khóa bị sốt định kỳ tưởng bỏ mạng, mơ thấy lên thiên đàng xuống địa ngục… Khỏi bệnh, Khóa buôn liền mấy chuyến trên con đường hàng không Xiêng-Khoảng Hà Nội. Tuần báo Văn Hóa ra chào đời được phổ biến rộng rãi và nhiệt liệt hoan nghênh trong giới kiều bào ta ở Ai Lao chính là nhờ Khóa luôn luôn tìm cách cổ động. Nhưng Tân nào đã biết những chuyện đó, Tân chì biết Khóa là “nhà thầu xây cất” lại kiêm “nhà buôn” nữa!

 

Khiết hỏi Khóa:
– Thế chuyến buôn của anh vừa rồi có gì trắc trở không?
– Chẳng có gì trắc trở cả, khoái là đằng khác.
Lãng tủm tỉm cười:
– Chắc gặp gái Lào nên anh khoái chứ gì?
Không ngờ câu đoán mò áy lại đúng, Khóa được dịp thao thao không riêng gì với Hãng mà với tất cả:
– Được đi chơi với bạn thân như các anh, không phải mang một cái gì trong người, tôi thích lắm! Giấy tờ không phải mang, tiền nong không phải mang, chỉ việc ngồi lên xe, mặc bạn đưa đi đây đó, sướng không thể tả được. Ấy khi trở lại đặt chân lên đất Lào, tôi cũng được sống thoải mái như thế. Lần này sang tới nơi, một anh bạn cũ đương làm chủ nhà giây thép bên đó kéo tôi đi Bạn Kơn (làng Kơn) cách Vientiane đến tám chục cây số. Rồi trong khung cảnh rừng núi mênh mông đó dân Bạn Kơn làm lễ ba-si (lễ chào mừng khách lạ tới), một cô gái mang vòng hoa lại quàng cổ, một cô khác lấy dây chỉ buộc vào tay, rồi ăn hoa quả, trứng gà, trứng vịt luộc… Tôi ở lại Bạn Kơn một ngày, lâu lắm mới lại trông thấy cảnh cô gái Lào gánh hai cái thúng trông như hai cái gầu dài ở xứ ta, trong thúng có vài nải chuối, hoa bắp chuối, trứng gà, trứng vịt, hoặc gạo, đòn gánh bằng gỗ dừa. Chắc các anh không biết cách ăn mặc của gái Lào: búi tóc đứng nghiêng trên đầu, bên trên mặc thứ áo trông như chemisette của đầm, bên dưới là cái xị (váy) có đường thêu bằng chỉ màu xanh đỏ, có cả đường kim tuyến nữa. Bán hết hàng, quẩy hai thúng không trên đường về, các cô có thể rẽ xuống một khúc sông nào đó tắm, tắm khỏa thân ạ! Chemisette cởi ra, cái xị nâng quấn lên đầu, đương tắm nghe có bước chân người, các cô lên bờ, kéo xị từ trên đầu xuống, lại kín đáo rồi. Trưa hôm đó tôi cùng anh bạn thủng thỉnh ra sông. Bỗng anh bạn để một ngón tay lên miệng “suỵt” làm hiệu im. Chúng tôi cùng đi rất êm, rồi bò xoài trên bờ cỏ từ cao ngó xuống. Dòng sông bao la và óng ánh dưới nắng, những cây mây sắc (như cây lim bên ta) la đà xõa cành xuống hai ven sông và…
– Và dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên? – Kha cười và nón đón.
– Ảy, tòa thiên nhiên ngâm dưới nước! Rồi chúng tôi rút lui êm ái về chỗ cũ, dặng hắng làm bộ đường đường chính chính tiến lại. Người đẹp đã bỏ xị trên đầu xuống, mặc xong chiếc áo chẽn ở trên. Lâu lắm tôi mới lại nói tiếng Lào:
– Dù sẩy (Cô ở đâu)?
– Dù phuuuuun.. (ở xa lắm)\
Khóa cất tiếng cười sảng khoái rồi tiếp:
– Tiếng Lào hầu như rất hiếm adverbe “phun” là xa, kéo dài tiếng “phuun” là khá xa, mà nói “phuuuuun” là xa, xa lắm. Tôi lại hỏi người đẹp:
– Chầu âu khôi bồ? (Cô có lấy tôi không)?
Người Lào hiếu khách lắm mà, nàng rất nhã nhặn đáp:
-Âuuu.. (lấy…)
Tiếng “Âuuu” kéo dài nghe đến yêu. Nhưng còn lấy hay không lại là chuyện khác!
Khiết thấy Khóa lần này hoàn toàn khác “thứ Khóa” ngày xưa, vẫn cách nói chuyện háp dẫn nhưng xưa là Khóa của khoa học huyền bí lần này là thứ Khóa bay bướm đa tình. Lãng hỏi:
– Thế thời gian mấy năm theo học ở Lào anh có mê cô nào không?
– Tôi mê một cô hai năm liền! Lần nào gặp tôi, miệng cô cũng ngậm một bông hồng, người ta bảo đó là một cách bùa ngải.
– Anh mà nói chuyện nước Lào với nhà tôi thì cứ gọi là hết ngày!
Ai nấy giật mình quay lại và cùng cười ồ. Thì ra vợ Khóa đã từ nhà sang tòa báo lúc nào, mọi người mải nghe chuyện Khóa không ai để ý tới.
Tính Lãng hay bông đùa, chàng lắc đầu làm bộ cau mày:
– Trời, cái ông Khóa này tệ lắm chị ạ, thì ra ông ấy đi buôn ở đất Lào chỉ vì mê gái Lào! Chị đừng để anh ấy sang Lào nữa, e có ngày bị gái Lào bỏ bùa bỏ ngải quên mất đương về!
– Ôi chao- vợ Khóa đáp- càng hay anh ạ, hơi đâu mà giữ? Này ông ơi, liệu có về sửa soạn đi lấy hàng cho mẹ không.
Khóa hốt hoảng:
– À ờ nhỉ, tôi quên khuấy đi mất.
Lãng “bỏ bom” thêm:
– Thì đương nói chuyện tán gái Lào chầu âu khói bồ như thế gì mà chả quên?
Vợ Khóa mỉm cười ra về.
Kha vội nói:
– Anh Khóa đừng về vội, hãy nán lại chút xíu bàn qua việc tổ chức bữa tiệc tiễn đôi bạn Hãng, Hiển của chúng ta.
Tân giữ ý đứng dậy từ biệt mọi người nói là phải lên Hàng Đào mua mấy thứ cần.
Khóa vội hỏi:
– Anh Tân, thế anh có nhận lời giúp tôi không nào?
Thực tình đến lúc đó Tân mới hết ác cảm với Khóa, và trước khi chia tay với gia đinh Văn Hóa, Tân đã nhận lời hôm sau sẽ cũng Khóa đi Hưng Yên để xem xét công việc.
Đến khi đã trở về ngồi một mình trong căn phòng thuê vừa khuát vừa tối vừa hẹp, Tân mới sực nhớ là quên không hỏi Kha xem hồi xưa, sau lúc chia tay ở Phú Thọ, Kha đi đâu, vì sao không ghi tên vào trường thuốc. Tân gặp Kha thì mừng quá mà quên hỏi, còn Kha thì về vấn đề đó lại rất… ẩu, chẳng hề chú ý đến.

 

III 

 

Sau này có dịp hàn huyên mới hay là tính ra Tân đã vào thành trước bọn Hiển, Kha, Miên chừng sáu tháng. Chàng vào thành vì một trường hợp bất ngờ.
Thuở đó quân đội kháng chiến đã lớn mạnh lắm, đương bao vây đồng bằng và có cơ thắng lợi dù luôn luôn bị quân Pháp với ưu thế về võ khí và phương tiện chống trả những đòn ác liệt. Chẳng may một đơn vị nhỏ nàọ bất chợt gặp mũi dùi đột kích của chúng, sự tổn thương thường rất nặng nề. Có lần cả một tiểu đội kháng chiến, người nào ở vị trí nấy chiến đấu chống trận mưa lửa của địch (đại bác, moóc chê, trung, tiểu liên … của bộ binh; bom lửa, đại liên của phi cơ) cho đến khi gục ngã hết không một người sống sót. Nhưng Tân không còn tin tưởng ở sự sòng phẳng tinh thần của lũ người lãnh đạo kháng chiến nữa. Chàng hơn Kha, Hiển ở chỗ chàng có thể vui với thế giới của chàng, thế giới của con dao cái kéo cứu nhân độ thế.
Tân đã lần lượt đi sát quân đội, rất nguy hiểm, quanh vòng đai Bunker của tướng De L. để băng bó mổ xẻ cho các chiến sĩ bị thương. Đầu hạ 1951, Tân được lệnh dời Phủ Lý trở về Bắc Giang rồi vượt qua quốc lộ số Một theo bộ đội dự chiến dịch tấn công mấy đồn tiền tuyến địch miền duyên hải.
Quân đội chuyển dịch dưới rừng nứa thành một dòng người bất tận. Voi-đại bác- cứ tuần tự được hì hục khiêng lên tới đỉnh dốc này thả cho lăn xuống triền dốc để rồi lại được khiêng lên một đỉnh dốc khác. Mưa, đường lầy quánh. Khẩu lệnh truyền theo dòng người như chiếc ống bương trôi theo dòng sông, có điều cái “ống bương khẩu lệnh” này có thể trôi xuôi hay trôi ngược tùy lúc.
– Truyền lên, đại đội trưởng Lê Tâm cho biết voi tới đâu rồi?
– Xin đồng chí đại đội trưởng Lê Tâm cho biết voi tới đâu rồi, truyền lên?
– Voi đương lên đình Cây Diều, truyền xuống!
– Voi đương lên đình Cây Diều, truyền xuống!
– Đồng chí trung đội phó Hùng Sơn lên gặp đồng chí chính trị viên đại đội ngay, truyền xuống!
– Mời đồng chí Hùng Sơn lên gặp đồng chí chính trị viên đại đội ngay, truyền xuống!
Truyền xuống…truyền xuống… Tiếng nói cứ như thế nhấp nhô gập ghềnh trôi nổi cho đến chỗ có tiếng đón:
– Tôi đây. Có tôi rồi đây! Xin đồng chí cho tôi lên nhờ một tí!
Trời về chiều, bóng tối đổ ập xuống rất mau, bộ phận quân y được lệnh dừng lại. Tân cùng một số bạn đồng đội chặt vội những cây hóp làm sàn ngủ; một số ngủ trên sàn, một số luồn xuống gầm sàn trải vải bạt ra nằm, chân mọi người còn nhép bùn và tiếng cười luôn luôn khúc khích!
Một anh cất tiếng nói:
– May mà khu rừng này ít vắt, nếu không, ngủ qua đêm, hôm sau máu trong người không còn mấy nữa, hai bàn chân có thể mọc thêm rất nhiều những ngón chân cái và vai, cổ có thể vướng víu rất nhiều những bướu nhỏ!
Không có vắt, nhưng Tân, nằm dưới gầm sàn, chập chờn không ngủ được. Chàng chỉ lo các dây lạt buộc lỏng, sàn trên sập xuống thì khi nửa tấn người bên trên có vùng dậy nhẩy ra khỏi sàn, lũ người bên dưới cũng đã chết bẹp rồi. Mãi đến gần sáng, Tân mới ngủ thiếp được một giấc ngon lành vì mệt.
Hôm sau, gay go nhất là đoạn bộ đội qua đèo Cóc, đèo phân ranh giới Bắc Giang và Quảng Yên. Dưới chân đèo Cóc bên địa phận Quảng Yên là một khoảng đồng ruộng dài trên năm cây số. Ban ngày phi cơ thám thính địch bay lượn thường xuyên, ban đêm đại bác địch tự các vị trí ở Mỏ Thổ (bên kia đèo, thuộc địa phận Bắc Giang) câu như giã gạo rất đúng sang sườn đèo bên này rồi rải rác xuống khắp cánh đồng bằng bện dưới làm một số ít bộ đội và một số lớn dân công, vào ngày đầu chuyển dịch, bất ngờ uổng mạng. Một số dân công được chỉ định ở lại đào hầm trú ẩn dọc theo khe con lạch nhỏ rồi đào hố công cộng chôn xác các nạn nhân để tránh mùi xú uế và nhất là để tránh cảnh chết phơi thây làm mất tinh thần quân đội. Đội quân y của Tân qua đèo vào lúc chập tối, mỗi lần nghe tiếng đại bác nổ bên kia đèo, ai nấy tìm ngay lấy một chướng ngại vật thiên nhiên gần nhất chạy tới nằm rạp xuống cho đến khi ngớt loạt súng. Có chừng hai cây số đường đèo mà phải mất ba tiếng đồng hồ mới đi thoát

 

Chiến dịch này chì cốt dử địch ra khỏi đồng bằng, nhưng chúng không mắc mưu, chúng đành hy sinh những đồn nhỏ đó. Voi nhà được âm thầm chuyển vận tới sát đồn để bắn đạn đạo thẳng. Cách sử dụng đại bác kỳ khôi này chỉ có thể thực hiện ở một nước quân dân nhất trí diệt xâm lảng. Rồi quân ta xung phong. Trừ một vài tù binh ngắc ngoải bộ đội đành cho một phát tối hậu, các tù binh khác đều được băng bó tử tế, vài cán bộ quân báo tới láy lời khai tức thì. Những tù binh này có cách quan sát riêng của chúng. Với Tân, chúng xưng tụng là Mon colonel!(thưa đại tá); với những y tá giúp việc Tân, Mon lieutenant! (Thưa trung úy).
– Thưa đại tá, vết thương ở chân này có thể biến sang chứng hoại thư?
– Làm sao mà vết thương này biến sang chứng hoại thư được?
– Thưa đại tá tôi sợ trùng uốn ván.
– Anh sẽ được tiêm thuốc ngừa trùng uốn ván.
– Thua đại tá, trường hợp tôi cưa chân thì sao?
– Thì cưa chân chứ sao!
– Thưa đại tá, có thuốc tê?
– Các chiến sĩ của tôi có thể nhường thuốc tê cho anh.
Một buổi chiều cuối chiến dịch, tiếng đại bác đã dứt hẳn, trạm quân y tiền tuyến của Tân rút về đóng tại một làng tề cây cỏ xơ xác, nhà cửa đổ nát. Nhận được một số đồ hộp chiến lợi phẩm, có cả rượu vang, Tân bèn cùng các bạn bầy bàn tiệc tại một căn nhà ngói năm gian của một gia đình chắc là vào hạng khá giả nhất làng (toàn thể dân tề nơi đây đều đã lánh nạn). Thức ăn được bầy lên đĩa sứ trắng tinh, rượu vang đỏ thắm được rót vào ly pha lê. Bữa tiệc tiền tuyến đượm vẻ quý phái, cuối tiệc có cà phê và thuốc lá thơm. Tân lòng lại nhủ lòng: “Xong chiến tranh, nhất định mình sẽ kiếm ra tiền để sống một cuộc đời cho ra sống với tất cả vẻ đài các quyến rũ của nó. Đã sống gian khổ và không bao giờ quên những gian khổ, cuộc đời đài các kia càng thêm ý nghĩa!”
Chếnh choáng say, mỗi lần Tân nâng ly, ý nghĩ thầm càng bốc lên lẫn vào màu rượu đỏ thắm: “Phải kiếm cho ra tiền xây dựng một cuộc sống đài các quyến rũ chứ!”

 

IV 

 

Yên Báy với rừng nứa hoang vu man rợ bên tả ngạn con sông Hồng cuồn cuộn, hai bờ đê cao đất đỏ. Dưới Yên Báy mười bốn cây số, trên Vũ Ẻn hai mươi ba cây, là một thị trấn nhỏ có trường trung học Đan Hà._ở bên kia hữu ngạn, đối diện với Đan Hà, là làng Hiền Lương cũng có đền thờ bà Âu Cơ như một vài nơi khác quanh vùng nhưng chắc chắn đề thờ Bà ờ Hiền Lương mới là đền chính vì hàng năm dân làng giữ tục lệ làm giỗ Bà linh đình.
Trang sử ngày nào Tân học: Lạc Long Quân lấy con gái vua Đế Lai tên là Ầu Cơ, bà đẻ ra trăm trứng nở ra trăm con. Một hôm Lạc Long Quân bảo Âu Cơ rằng: ‘Ta thuộc dòng dõi rồng, nhà ngươi thuộc dòng dõi thần tiên, ăn ở lâu với nhau không được: nay được trăm đứa con thì nhà ngươi đem năm mươi đứa lên núi, còn năm mươi đứa ta mang xuống bể Nam Hải”.
Sau chiến dịch miền duyên hải, nhân một dịp đội quân y lưu động của Tân tạm đóng nơi đây mấy ngày, Tân được chứng kiến buổi lễ. Chỉ những cô gái đồng trình mới được rước kiệu Bà vào hậu cung. Tân cùng đoàn con giai làng quỳ xuống lễ bái vọng khi đoàn con gái rước kiệu đã khuất vào đền, lòng Tân tràn ngập một niềm thành kính cũng hoang vu, cũng rộng lớn, cũng tràn ngập sức sống của sinh thành như cảnh trí nơi đây đất đồ rừng xanh, núi chập chùng, sông cuồn cuộn.
– Cháu nó cũng ở đoàn người rước kiệu! – một bà khuôn mặt phúc hậu có che mạng ở mắt đứng ngay bên khoe với Tân.
Tân cùng bà nói chuyện được mười lăm phút thì cô gái ra. Khuôn mặt nàng tròn phúc hậu, tóc cắt ngắn vừa che kín gáy, đôi má đỏ hồng vì vừa khiêng kiệu, đôi mắt bồ câu đen lóng lánh. Nàng nhìn Tân hơi e lệ. Tự nhiên Tân thấy muốn kết duyên cùng nàng, chàng muốn ngộ nghĩnh tin rằng chỉ những người con gái làng Hiền Lương này mới giữ được giòng máu chính thống của bà Âu Cơ.
Tân nhận lời về nhà cùng bà mẹ, rồi chàng thăm mắt cho bà. Bà bị lông quặm! Chính Tân mổ mắt chữa cho bà ngay chiều hôm áy.
Cô gái mới mười tám tuổi cuối niên học này nàng thi trung học phổ thông, tên nàng là Ngoan. Mẹ nàng trước đây buôn bán ở Vũ Ẻn, sau ngày cha nàng chết vì phi cơ địch khủng bố, gia đình nàng bèn rút về làng trông nom cầy cáy.
Một buổi sáng chủ nhật Tân cùng nàng đi thuyền nạn vào trại trong núi, được rõ thêm nàng còn ba chị em gái nữa. Người chị cả lấy chồng được ba tháng thì chồng theo bộ đội kháng chiến biệt tích, người chị thứ hai lấy một đại đội trưởng biết rõ là hiện đóng ở Yên Báy; thứ ba là ngoan; thứ tư là cô gái nuôi bằng tuổi Ngoan hiện lấy một thương binh, cặp vợ chồng này thường xuyên ở trại để trông nom hoa mầu.
Nhà trại ba gian lợp lá, bếp liền ngay bên, phía sau dựa vào núi, phía trước ià sận đát mịn rồi những thửa ruộng từng bậc… từng bậc đi xuống, tận cùng là con suối. Hàng xóm gần nhất cách đấy cũng phải hai cây số. Tất cả những con suối từ các ngả khe núi chảy đổ vào một khoảng sâu thung lũng thành hồ, rồi tư hồ các con suối lại chảy đi các ngả thành những đường giao thông rất tiện lợi cho thuyền nhỏ từ xóm này sang xóm khác trước khi đổ ra sông Hồng. Xung quanh hồ rát nhiều cây vú sữa cành chiu quả, vỏ xanh xanh tím tím. Dân các xóm từ bốn ngả ngày ngày đánh thuyền ra hồ tung lưới bắt cá về kho với măng nứa: đó là hai món ăn “tứ thời bát tiết” của dân vùng. Sang sáng tiếng vượn rúc từng hồi đánh thức người dậy.
Ngoan đi học mang theo đèn dầu. Học đêm để tránh phi cơ! Chiều chiều khi tắt nắng, người lái đò đến bến, cầm một ống tre nhỏ gõ lên mái chèo.;. Ngoan cùng một số bạn học khác- nam có, nữ có- biết hiệu chạy tới. Ngày cuối cùng ở lại Hiền Lương, Tân cùng Ngoan đi sâu vào miền núi chừng hai cây số rồi dừng lại ở dưới gốc một cây lim lá nhỏ, xanh mướt như tráng mỡ. Cuộc đi chơi không mục đích hay chỉ có mục đích để hai người được dịp đi sát bên nhau. Dừng lại dưới gốc lim, cả hai cùng nhìn con đường mòn vắt ngang sườn núi rồi khuất dưới một khu rừng xa:
– Thời Pháp thuộc, vào mùa nắng- Ngoan nói- người Kinh minh vẫn dùng con đường mộn nàỵ đi tắt lên tới Ca Vịnh, Nghĩa Lộ buôn bán với người Thổ trên đó.
Tân ngồi xuống dựa mình vào gốc cây, khẽ kéo vành mũ lá che nắng, Ngoan ngồi xuống bên chàng tin cậy. Chưa một lần Tân nắm tay Ngoan, nhưng cả hai cũng thừa biết đã yêu nhau. Tân chưa muốn tuyên bố vì hôm sau chàng đã lên đường. Chàng hứa với Ngoan đến Tết chàng sẽ xin nghỉ phép về với Ngoan lâu.
Y hẹn, trưa ba mươi Tết Tân về Hiền Lương rồi theo đường vào trại trong núi. Cả nhà đương tụ tập giết lợn, gói bánh chưng ăn Tết. Mọi người đều tiếp đón Tân ồn ào đon đả, riêng Ngoan hơi bẽn lẽn, đôi má ửng hồng, cặp mắt ngước nhìn im lặng. Mười một giờ khuya, Tân đốt đuốc đưa Ngoan xuống suối rửa rổ bát đĩa cuối cùng.
Ánh đuốc bập bùng, tiếng nước róc rách … Xa … tít phía xa … con sông Hồng hẳn vẫn đương lao mình cuồn cuộn giữa khoảng bãi cát trắng phau, thoại thoải mênh mông. Tân cảm thấy mình đương đợi một cái gì bên kia sông. Phải rồi, mùa xuân! Mùa xuân hiện đang còn bên kia sông túc trực đợi đến phút giao thừa mới bước sang bên này… Tân đã dầm tắt đuốc lúc nào và ôm gọn Ngoan nép dưới ngực. Tân cúi xuống hôn lên má nàng. Hơi ấm của mùa xuân như bắt đầu tỏa ra từ đôi tình nhân trong sạch.
Rủi làm sao ngay trưa hôm sau, mùng một Tết, Tân nhận được lệnh theo quân đội xuôi gấp!
Khi ra đi, Tân không dám quay lại nhìn Ngoan; chàng biết Ngoan sẽ khóc nhiều ngay từ lúc chàng vừa đi khuất, khóc cho đến tối, khóc suốt đêm.

 

V 

 

Tân theo bộ đội xuôi xuống ba ngày liền thì tới bò’ sông Đà, đóng quân tại làng Đề Thám bên tả ngạn thuộc Phú Thọ, bên kia hữu ngạn là Sơn Tây với ngọn Ba Vì cao ngất.
Hình như địch muốn nhảy dù chiếm lại Hòa Bình và đại quân ta đã túc trực ờ Tu Vũ để có thể nắm quyền chủ động tận diệt địch ngay từ phút đầu. Bộ đội Tân theo, một nửa đã sang sông từ tối hôm trước, vào sâu miền hậu địch quấy rối; tối hôm đó Tân sang sông cùng với một ít thuốc men cần thiết, theo Tân là mười hai nhân viên y tá và học sinh y tá. Mọi người băng qụa bãi cát trắng…bì bõm lội ngang dòng sông… băng qua mẩy cồn cát giữa dòng… rồi lại bì bõm lội… Bờ đê bên kia rát cao và như cố ý đổ bóng tối xuống lòng sông để yểm hộ. Đã có bộ đội bố trí trên bờ đê.
– Đi nhanh lên các anh- tiếng một cán bộ chỉ huy- có thể ca nô địch sắp tuần tiễu qua.
Mười hai giờ khuya Tân và nhân viên của chàng mới tới địa điểm. Đấy không phải là làng, chỉ là một vùng cây rậm có lạch chảy qua, có những chòi lợp tranh cho thương binh nằm tạm. Rất nhiều phụ nữ từ các vùng tề lân cận tới để giặt giũ cho thương binh, mang theo bánh mỉ, trứng gà, sữa…
Tân cùng đoàn nhân viên quân y làm việc suốt đêm rồi suốt ngày, nhiệm vụ giản dị là băng bó cho thương binh nặng trước để chở sang sông tức khắc, rồi đến những thương binh nhẹ.
Tối hôm sau nghe tin địch tới, có tiếng súng lớn. Tân ra lệnh cho nhân viên điều khiển việc chở thương binh sang sông, chàng theo liên lạc viên đến bộ tham mưu để được rõ về tình hình địch và hỏi xem quân y sẽ đi đâu. Chàng và chú bé liên lạc đi từ mười một giờ khuya mãi đến hai giờ sáng mới tìm thấy bộ tham mưu. Sớm hôm sau chàng gặp đầy đủ số ý tá, và các thương binh đều đã được chờ hết sang sông. Thủy, lục, không quân địch tấn công ào ạt suốt ngày hôm ấy. Ba giờ sáng đoàn quân y của Tân cùng bộ đội đi miết theo một con đường dốc ngược, sáu giờ sáng Tân thấy mình đã đứng trên Ba Vì. Một y tá giở cơm nắm chia cho chàng một nửa. Tiếng súng lớn dội vào sườn núi liên tiếp và phi cơ địch oanh tạc một mỏm núi bên kia. Có lệnh phải tức khắc đào hố cá nhân. Tiếng nổ rùng rợn đâu gần đấy, tiếng mảnh đạn réo trong không khí và người y tá vừa chia cơm cho Tân ngã gục xuống hố mới đào được nữa khoang ngang bụng, máu chảy ra thấm đẫm áo. Tân cuối xuống vén mi nạn nhân thì thầy tròng mắt trắng dã, dại hẳn.
Lại có tiếng đại bác nhả đạn đằng sau. Ai nấy nép mình nằm im dưới đáy hố nông. Đã làm việc mấy ngày đêm liền, Tân ngủ thiếp đi lúc nào không biết, tiếng đại bác nổ đều đặn và trong giấc ngủ chập chờn Tân nghe tiếng phi cơ địch rú mơ hồ như tiếng ruồi, tiếng nhặng vo ve. Khi bừng tỉnh dậy, cảm giác đầu tiên xâm chiếm hồn Tân là một sự vắng lặng ghê rợn. Đã ba giờ chiều! Cây cối vẫn thế, ánh nắng vẫn thế mà sao không khí đượm vẻ rùng rợn dị thường. Tân cử một y tá sang liên lạc với bộ tham mưu ở mỏm núi bên kia. Bộ tham mưu đã rút lui tự lúc nào.
– Thế là quân y mình bị bỏ rơi – anh y tá đi liên lạc về than phiền.
– Chúng ta sửa soạn lên đường- Tân nói với tất cả- rồi cứ tiến thẳng hướng Tây Bắc sẽ gặp tham mưu đại đoàn, họ đã dặn tôi trước thế.
– Chúng ta còn phải chôn anh bạn đã chứ?- một y tá nói.
Tân đưa mắt nhìn người đã bẻ nửa nắm cơm cho minh ban sáng nằm cứng đờ trên miệng hố, da mặt bắt đầu xám đen.
– Vâng – Tân nói – các đồng chí chôn cất anh bạn rồi sửa soạn ngay nhé, tôi xuống trước kiếm đường rồi trở lại.
Tân thoăn thoắt theo đường mòn xuống được chừng năm trăm thước vừa lội qua dòng suối nhỏ thì có tiếng rên gọi tự trong bụi cây ngay bên lối đi.
-Chở tôi đi
Đó là một quân nhân bị thương mất nhiều máu và cũng nằm lả bên hố cá nhân đào dở. Tân cuối xuống nắm lấy cổ tay xem mạch thấy yếu lắm. Chàng mở đồ băng bó cho người bị thương xong rồi dặn:
– Đồng chí cứ nằm đây. Đừng rên nhỡ quân địch qua, chúng biết thì khổ, chúng tôi sẽ đến cáng đồng chí đi.
Khi Tân trở lên, đám y tá đã đi mất, họ cũng đi tìm đường. Tân trở xuống thì người thương binh đã chết. Hố cá nhân biến thành huyệt. Chôn cất xong cho người tử sĩ, chỉ còn một mình Tân, trời vừa nhòa nhòa tối. Theo kinh nghiệm, Tân đi dưới suối để tránh cọp và may ra có thể gặp một bản nào.
Chín giờ khuya…Mệt quá, Tân chui vào nằm trong chiếc nhà mồ nhỏ dựng bằng tre, lợp gianh, bên trên có treo những đạc gỗ và những hình nhân bằng giấy. Ngủ như vậy đỡ sương. Vừa đặt minh nằm, Tân thoáng nghe có tiếng gà, xa xăm như có tiếng người. Vùng dậy, tiến lên chút nữa, lối mòn rõ hơn, rồi đường đất rộng, rồi bờ ruộng. Tới khoảng rẽ ngoặt có tiếng chặt câỵ và thấp thoáng ánh đèn. Đường hoàng tiến vào, Tân tin là đã tìm thấy đại đoàn. Thấy một nhóm người ngồi quanh lửa, Tân cất tiếng hỏi:
– Đây là đơn vị nào, đồng…
Chưa kịp nói tiếp tiếng “chí” Tân phải nhìn vội lại vì vừa nhận ra chiếc mũ partisan bên ngọn lửa. Đó là tiểu đội tiền đồn của địch vừa tới chặt cây chưa kịp đặt lính canh. Một partisan đeo lon cai chĩ súng vào ngực Tân, đồng thời hai lính Pháp xô tới, Tân nói ngay bằng tiếng Pháp:
– Tôi là sinh viên quân y!
Một tên lính Pháp đáp gọn:
– Được lắm!
Rồi trói tay chàng, dẫn đi ngay. Qua đường mòn một quãng dài tới đường cái lớn, xe tăng san sát. Tân bị nhốt xuống hầm.
Mãi đến sáng hôm sau Tân mới được biết là mình bị nhốt ở ấp Đá Chông, một căn cứ hậu tuyến địch.
Quả thực chúng đương chuẩn bị đánh Hòa Bình!
Vừa lúc đó một sĩ quan phòng nhì Pháp đích thân đến tìm Tân ở hầm rồi mới dẫn lên bàn giấy của y. Y cầm tập sách in ronéo, chậm rãi mở từng trang, có ghi quân số từng tiểu đoàn cùng tên các vị chỉ huy… Y muốn gián tiếp tỏ cho Tân hay là y đã biết hết, Tân có dấu cũng vô ích, nhưng Tân làm vẻ hết sức thẳng thắn khai mình chi là một sinh viên quân y, và ngày nay đoàn thể Việt Minh đã lộ khuôn mặt thực, cuộc kháng chiến mất ý nghĩa thiêng liêng buổi đầu (điều này chàng nói thực), chàng muốn trở về Hà Nội, tiếp tục học thuốc vì hay tin vị khoa trưởng Y khoa đại học, bác sĩ Henri H. là người có quan niệm rộng rãi ưng cho sinh viên kháng chiến về Hà Nội được theo học lớp tương đương, chỉ cần qua một kỳ sát hạch (điều này chàng biết là do lời một người bạn cán bộ quân báo cho hay). Tân nhấn mạnh là chàng cố ý tìm đến quân đội Liên Hiệp, bằng chứng chàng đã dõng dạc lên tiếng hỏi trước: “Đây là đơn vị nào đấy?” (Sự thực: “Đây là đơn vị nào, đồng…)
Thấy lời đáp bằng tiếng Pháp trôi chảy hợp lý tên sĩ quan phòng nhì ngừng lấy khẩu cung ở đấy, Tân được dẫn trở về hầm. Sau bữa cơm trưa, Tân đương dựa lưng vào tường lim dim ngắm bóng tên tây đen to lớn vai đeo khẩu tom-sơn đứng canh cửa hầm, thì một trung úy quân y Pháp đến tìm chàng để hỏi về tổ chức quân y cùng tình trạng thuốc men vùng kháng chiến. Khi Tân hỏi lại việc muốn về Hà Nội tiếp tục học thuốc, viên y sĩ trả lời: “Ngày mai chúng tôi sẽ đưa anh về trại tập trung, ở đó anh sẽ gặp đại tá bác sĩ quân y, đại tá mới đủ thẩm quyền trả lời anh”.
Quả nhiên hôm sau Tân được theo xe chở thư về trại tập trung cách đấy chừng hai chục cây số. Chàng không được gặp viên đại tá bác sĩ quân y, có lẽ họ cho là không cần thiết. Buổi chiều chàng được gửi theo một convoi (đoàn)về thành và đưa đến ở trú xá Maison de passage ( nhà tạm trú).
Tân ngồi xuống chiếc ghế dựa kê bên chiếc bàn mộc, nhìn sang căn nhà bên kia khu vườn hoa nhỏ. Qua khung cửa sổ để ngỏ, một người đàn bà đưa mắt nhìn chàng từ lúc nào, miệng mủm mìm khá lẳng lơ. Tân quay đi ngượng ngập nhưng mỗi lần quay lại thì “nàng” trong cửa sổ dường như cũng chỉ đợi có vậy để ngước lên với nụ cười nửa như riễu cợt nửa như khiêu khích. Tân đoán chừng nàng là một me tây. Nàng có khuôn mặt tròn, đôi má bánh đúc, nước da bánh mật, vóc người đẫy đà và chắc lẳn, nàng hẳn từng lam lũ ở đồng quê nhưng nay đã biết tô môi màu đỏ thẫm và đôi lông mày kẻ chì khá đậm. Nàng đứng lên tiến tới giường kê ngay phía bên cửa sổ rồi vừa vỗ nệm vừa nói một người bạn nào ngồi khuất gần đó:
– Xứ mình nóng chết cha chết mẹ mà chúng nó cứ thích nằm nệm, thật khỉ!
Nàng liếc mắt đưa tình với Tân. Bất giác Tân mỉm cười vì tiếng bạn nàng hỏi:
– Thế mày không thích nằm nệm?
– Không! – nàng đáp – mùa hè tao thích nằm phản ghế ngựa lau bóng, mùa đông nằm ổ rơm!
Tân quay nhìn sang phía khác vừa quan sát những người lính có công việc qua lại nơi đây vừa suy nghĩ đến tâm trạng một số cô gái quê đất Việt sa cơ thất thế lấy Tây rồi, nhưng vẫn thích những cuộc chung đụng “Nam quốc Nam nhân với nhau”.
Có tiếng chân xịch tới phía sau, Tân quay lại: nàng đã xuống đường đi quành khu giồng hoa sang bên này.
– Ông ở đâu về đấy? – nàng hỏi.

 

Tân nghĩ nên trả lời giản dị:
– Tôi ơ Sơn Tây về.
– Ông là người “ngoài ấy” bị bắt?
– Sao cô biết?
– Trông cách ăn mặc thì biết chứ sao. Nhưng ông đừng lo, đã đưa về đây thì chỉ nay mai là được cấp giấy tha.
Tân không nói gì và cũng không nhìn nàng.
– Ông biết viết tiếng Pháp? – nàng hỏi.
– Vâng, có!
– Ông làm ơn viết giúp em một lá thư gửi cho George, chồng em, hiện ở mặt trận Nam Định.
Nàng kéo ghế ngồi đối diện với Tân, cách chiếc bàn mộc, đặt trước mặt chàng tờ giấy viết thư màu xanh và chiếc bút chì nguyên tử đỏ. Tân nghe nàng kể lể rồi viết vắn tắt ý nàng muốn nói, trong khi một người đàn ông chạc năm mươi tuổi, đầu hoa râm, râu mép màu muối tiêu đeo lon sergent chef trên tay áo, thỉnh thoảng qua lại ném vào những tia nhìn hằn học.
Lá thư viết xong, nàng ghé sang gần Tân giải thích thầm:
– Đội thông ngôn đấy! Lão ta theo lơn em hơn một tháng nay mà không được. Rõ thực già rồi mà còn muốn chơi trống bỏi! Ấy trông dáng hắn có vẻ bề thế, vạm vỡ nhưng nghiện oặt, khi hắn cười, ông trông bộ răng thì biết.
Nàng mủm mỉm cười, đưa đẩy con mắt sắc như dao cau, cám ơn Tân rồi trở về.
Đã đến giờ tan sở, ánh đèn vừa bật lên lấp lánh đây đỏ sau các lùm cây. Người đội thông ngôn bĩu môi nhìn Tân, trước khi nhảy lên xe đạp ra về hắn chửi đổng:
– Mẹ kiếp, tưởng theo Vẹm được mãi!
Hôm sau quân đội Pháp gửi trả Tân sang bên công an Bắc Việt. Nơi đây người ta cũng chỉ lấy khẩu cung qua loa rồi cấp giấy thông hành tạm mười ngày cho chàng. Ba lô quần áo được trả lại, trong đó còn hai lọ penicilline, di sản của thời kháng chiến, chàng đem bán được năm đồng. Tờ giấy năm đồng màu nâu nhạt có vẽ hình lượng long chầu nguyệt đối với Tân lúc ấy là cả một tài sản nuôi sống chàng trong mấy ngày cầm cự. Tân lần lượt đi dọc theo các phố Hàng Trống, Hàng Đào” Hàng Ngang, Hàng Bồ, Hàng Buồm, chợ Đồng Xuân, khi nào mỏi chân lại quay về ngồi ghế đá bờ hồ phía gần bến xe điện. Chẳng gặp người quen nào! Mười hai giờ khuya, Tân vào bót Hàng Trống, xuất trình giấy thông hành tạm, xin ngủ nhờ tránh sương. Hôm sau chàng xin một chân đánh trống quảng cáo cho rạp Quảng Lạc, được ăn nhưng không có tiền công. Vào lúc nghĩ việc chàng đi lang thang các phố dừng bước khá lâu trước cổng ra và hoặc trước cửa văn phòng các trường tư thục mong gặp được người bạn cũ giáo sư nào chăng. Toàn những khuôn mặt lạ! Một lần chàng dừng lại trước Y Khoa Đại Học Đường, đôi tay thấy ngứa ngáy nghĩ đến con dao cái kéo, nhưng rồi chàng cắm đầu đi thẳng ngay: mộng tiếp tục học Thuốc giờ đây xa vời quá!
Nửa tháng đánh trống kiếm ăn qua…ông chủ rạp Quảng Lạc cho ngừng diễn trò một tuần để sửa lại sân khấu. Bữa cơm chiều cuối cùng Tân ăn cùng mấy bạn “đồng nghiệp” trẻ, vẫn như thường lệ được dọn trên chiếc bàn mộc tròn kê ngay bên dưới sân khấu, mấy tờ nhật báo trải ra thay khăn bàn. Cơm xong Tân chưa dời khỏi rạp, thâm tâm băn khoăn chẳng biết rồi mai đây kiếm ăn bằng cách nào đây.
Ồng chủ thầu nhận sửa sân khấu vừa tới, phía sau là người bạn gái của ông, áo màu quần trắng, dáng đi chao chát mỗi khi qua mặt ai, hai vai nàng rung động, một tay nâng lên che miệng cười. Nàng tiến lại gần… Tân giật mình! Hai người nhận ra nhau, nàng là cô me tây mà nửa tháng trước Tân gặp ở maison de passage, ông chủ thầu hẳn là đối tượng để nàng “Nam quốc Nam nhân với nhau” khi chồng nàng George còn bận rộn ờ mặt trận Nam Định. Nàng đã giới thiệu Tân cho ông chủ thầu khi đó đương cần một người thư ký thạo tiếng Pháp.
Thế là Tân làm quen với nghề mới, nghề thầu.

 

VI 

 

Hãng DRAGAGES chuyên thầu về nhà cửa cầu cống, trụ sở bên… “mẫu quốc”. (Tân vẫn thầm gọi thế, chàng không hề đi vào ảo tưởng cho là miền quốc gia này đã độc lập). Chi nhánh chính của hãng DRAGAGES đặt ờ Saigon, hai chi nhánh phụ một ở Huế, một ở ngay Hà Nội này.
Xương, ông chủ thầu của Tân, chỉ là người thầu lại việc của người Pháp, ông ta ngót năm mươi tuổi, khuôn mặt vuông, cằm bạnh, nước da bánh mật, khuôn mặt với nước da đó thật hợp với dáng người vạm vỡ của ông, duy mái đầu hoa râm quá nửa khiến mỗi tháng ông phải đi nhuộm lại một lần, tóc vì thế khô xác, màu đen thô kệch như màu mực tàu rẻ tiền. Sáu tháng đầu Tân giúp việc cho ông Xương, ông toàn thầu về nhà cửa tại các nơi đô hội có an ninh. Tân theo ông đi giao thiệp với những nhân vật có thế lực. Họ hẹn nhau bàn chuyện tiền nong toàn ở những nơi ăn chơi xa xỉ, bên bàn đèn với một số đĩ quý phái, hoặc tại những quán rượu tiệm nhảy quanh khi Tràng Tiền, hoặc đưa nhau đi ăn tại các khách sạn Métropole, Splendide. Tân phải tập nhảy, tập lái xe vào dịp này.Ông Xương hết sức cưng chiều Tân chẳng phải riêng vì chàng giao dịch với người Pháp thạo mà còn vì – theo sự nhận xét tinh tế của ông- ở cõi đời này mà còn gặp được một thanh niên chân thật như vậy quả là một điều quá hiếm.
Về phần Tân, Tân chẳng ưa gì ông Xương, đúng hơn chẳng ưa gì cái nghề thầu khoán của ông. Được theo sát ông để chứng kiến các vụ mặc cả giữa ông với các vị tai to mặt lớn, Tân mới có dịp thấy rõ mặt trái của đời.
Tân đã đại diện ông để điều đinh với tên trùm hành chánh Bắc Việt kia, biếu y mười ngàn đồng, y chưa chịu, ông Xương hay tin, nổi xung chửi đổng, gọi y là “con dê cụ”, rồi đích thân ông Xương vào năn nỉ – (lúc này ông có bộ mặt khác) – “khấn” thêm một ngàn nữa mới được.
Với những loại phải điều đình khác, ở cấp giám đốc hay chủ sự, ông Xương thường tỏ thái độ thân mật vồn vã bằng cách xưng hô “quan bác” và “đàn em” (tuy sau lưng ông vẫn chửi đổng và gọi xách mé), tỉ như giao thiệp với chủ sự phòng vật liệu công chánh để vừa được chọn vừa để được cấp dư dật những dụng cụ tốt, giao thiệp với cán sự công chánh để họ kiểm soát “đại khái” công việc của mình:
– Nếu việc này quan bác giúp đàn em trôi chảy đàn em xin biếu quan bác mười lăm phần trăm tiền lời.
– Việc này khó lắm – “quan bác” trả lời – đại huynh cho tiểu đệ như vậy ít quá.
Rồi họ uống rượu, ôm gái nhảy, hoặc hút thuốc phiện, ôm điếm. Cuộc điều đình tiếp tục tiến hành theo thể nhát gừng và thường là vào lúc gay cấn nhất thì bỏ lửng, rồi nâng rượu cười ngất, mời mọc điếu thuốc đã tiêm xong, cấu véo cô gái điếm… Sau sự cò kè bớt một thêm hai, khi tiệc vui bế mạc, tỉ số mười lăm phần trăm thường được nâng lên thành mười bảy hoặc mười tám phần trăm, về tới nhà mệt nhừ, ông Xương lại xổ ra một tràng tiếng chửi đổng với một nếp sống mới ráo riết, keo kiệt, chi ly với nhân công từng đồng khiến iũ người khốn nạn này khi nhận iương khoán khó lòng kiếm dư được một chút.
Theo sự phác tính của Tân thì một nửa số tiền nhà thầu chi tiêu vào mục “ngoại giao” – tiếng lóng của họ – với lũ tai to mặt lợn đó.
Rồi ông Xương tham lợi thầu cả cầu cổng và đồn bót tại những nơi hoàn toàn thiếu an ninh về đêm. Một buổi sớm, một thanh niên lạ mặt tới tìm gặp ông, xin được nói chuyện riêng với ông. Khi y đường hoàng ra khỏi nhà, ông Xương xuất hiện mặt cắt không còn hột máu. Thanh niên đó là một cán bộ Việt Minh hoạt động nội thành, y đến nói rất ngọt xin ông ủng hộ cho một món tiền cần thiết. Y kể vanh vách rằng “Đảng và nhân dân” biết ông đã thầu những đồn bót nào để giúp địch chuyển vận binh nhu, đã thầu những đồn bốt nào để giúp địch chống lại “nhân dân”…
Lần đó số tiền mà ông Xương “xung phong ủng hộ Đảng và nhân dân” để chuộc lỗi là bao nhiêu, Tân không rõ
Mặc dầu suốt ngày công việc liên lạc giao thiệp nhà thầu bận rộn, có khi kéo dài tới quá nửa đêm, Tân vẫn giữ được nếp sống quân y ngoài hậu phương, sớm sớm tập ngoài hậu phương, sớm sớm tập thể dục tắm nước lạnh, ở buồng tắm ra chàng cảm thấy minh mẫn, chàng chọn lúc đó để trù tính công việc, giúp ý kiến ông Xương và phác thời khóa biểu cho cả ngày. (Căn phòng Tân ở ngay sát phòng làm việc của ông Xương).
Sáng hôm đó, ở phòng tắm ra uống xong tách cà phê sữa, Tân yên lặng đợi xem ông Xương định trù làm gì.
Báo chí thủ đô liên tiếp đăng các trận lớn và không dắu cả những thất thiệt nặng nề về phía quân đội liên hiệp. Giới nhà thầu mấy khi để ý đến loại tin này! ông Xương khi vở được tờ báo chỉ chăm chú vào mục rao bán xi măng, tôn, gỗ… hoặc mục đau thầu.
– Tắm xong trông tươi trẻ nhỉ- ông Xương nói với Tân- thôi, anh thay quần áo nhanh lên đi đằng này với tôi.
– Nhưng chúng ta phải bàn trước công việc chút ít chứ.
– Công việc này không phải bàn! (ông bật cười) Muốn lấy vợ không? (ông cười lớn hơn).
Tân chĩ cười không đáp và đi thay quần áo. ông Xương lần này, trong khi chờ đợi, đặc biệt đọc lớn mấỵ tin chiến sự về công đồn và phục kích. Bỗng ông gập tờ báo lại ngả ngưòi trên ghế xích đu lim dim nhìn trần nhà, thốt:
– Merde, quelle saloperie!
Tân đã đứng trước ông và nhận ra rằng lời nguyền rủa đó không phải để ám chỉ những tin tức ông vừa đọc. ồng đương nghĩ gì.
– Đi thôi – ông nói – chúng ta cùng xuống garage và đi đón ông Hiệp ông Bích đã (hai người hùn vốn với ông Xương). Sau đó thì…
– Thưa ông thì đi đâu?
Ông Xương cười bí mật:
– Việc không quan trọng mấy. Lẽ ra chỉ có tôi với ông Hiệp ông Bích đi nhưng tôi muốn kéo thêm anh cho vui, anh còn là thanh niên mà!
Ồng Xương nhất định cầm lái. Tân ngồi ngay bên.
Hai ông Hiệp và Bích cùng chạc tuổi ông Xương nghĩa là khoảng trên dưới năm mươi chút ít, đầu tóc đều đã hoa râm, có điều hai ông này muốn níu lấy thời gian hơn ông Xương bằng cách nói chuyện rất tục, toàn là chuyện trai gái. Cả ba đều đồng ý lên mặt “cha chú” thân mật đuổi Tân xuống ngồi một mình ở ghế dưới rồi cười ngặt nghẽo.
Tân nghi là các ông sắp dở trò gì đây.

 

Ông Xương phanh xe lại trước cửa một villa gần dốc đê Yên Phụ rồi bấm còi. Hai phút sau ông lại bấm còi nữa, giục giã.
-Ô. Hiệp – Cội vừa vừa chứ, nhỡ bố nó ra, ăn nói làm sao? Ô. Bích – Bố bố nó cũng chẳng dám ra!
– Ổ. Xương – Cháu kia rồi!
Tân thoang thấy bóng một thiếu nữ mặc đầm, toàn đồ trắng tất tả chạy trên đường sỏi ra cửa. Nàng đã tới. Ô. Bích – Sao chậm thế Poupée?
Poupée – Bác ạ. Ồ! cả bác Hiệp nữa kìa, cháu không ngờ. Ô. Hiệp – Có gì là lạ, thế cháu không thích gặp bác à?
Poupée (cười rất thơ ngây) – Có chứ ạ.
Nàng đã nhìn ra Tân và dáng nàng e lệ.
Ô. Xương – Vào đi cháu, vào ngồi cạnh anh tre trẻ bên dưới đó rồi có muốn lấy thì bác làm mối cho.
Poupée – ứ, bác! ô. Bích – Vào đi, mau lên.
Nàng mở cửa vào, khép nép ngượng ngập. Nàng và Tân cúi chào nhau. Hai tay vẫn đặt lên thành ghế, nàng nghển người về phía trước để nói chuyện với ba ông Xương, Hiệp, Bích. Nàng không dám ngồi sát và ngồi ngang với Tân.
Poupée – Cháu đã chuẩn bị xong từ lâu rồi, nghe tiếng còi cháu mở ngăn kéo tủ lấy giầy, thế mà bác Xương còn bấm còi giục.
Ô. Xương – Hai phút chờ ở ngoài đường nghe máy nổ đều dài lắm cháu ạ.
Poupée – Khiếp, nghe tiếng còi giục lần thứ hai của bác như tiếng mắng, Ô. Bích – Các bác mắng thật chứ Sao. Nhưng kìa, nói chuyện với anh Tân ở dưới đi chứ. Sợ à?
Poupée nhìn Tân rồi lại quay lên ngay, cười cúi đầu.
Ô. Hiệp – Anh Tân là cựu sinh viên quân y chán nghề thuốc nên mới sang nghề thầu.
Tân hơi cau mày. Chàng thiết tha với nghề thuốc biết chừng nào, bao giờ chàng mới được quay về với nghề yêu dấu đó, bao giờ chàng mới được tiếp tục học nốt?
Poupée lại quay sang nhìn chàng và cả hai cùng mỉm cười. Nụ cười thơ ngây của Poupée làm Tân quên câu nói của ông Hiệp.
Tân – Trước đây Poupée học ở đâu? (Tân mỉm cười vì thấy mình đã chấp nhận cái tên “Poupée”của nàng)
Poupée – Em học ở Couvent des oiseaux nhưng em thôi rồi, thôi từ năm ngoái.
Poupée có khuôn mặt trái soan, nước da giữa khoảng trắng hồng và bánh mật, đôi mắt nhìn nửa thẳng thắn nửa e ngại, đôi môi không dầy không mỏng hơi trắng bợt và không một chút son khiến nụ cười càng thơ ngây, đôi cánh tay và cả thân hình nàng chắc lẳn nếu không phải là hơi đẫy, một sự “hơi đẫy” lẽ ra không thể có ở tuổi nàng.
Tân – Poupée năm nay độ mười sáu?
Poupée (cải chính rất khẽ, Tân hiểu vì nhìn kỹ đôi môi) – Mười bảy!
Poupée vô cớ nhè nhẹ gật đầu, nụ cười giữ trên miệng, đôi mắt nhln Tân rồi lại hơi cúi xuống ngước lên. “Một thiên thần hơi thô một chút” – Tân nghĩ thầm.
Ô. Bích (vẫn nhìn về phía trước, giơ cao cánh tay về phía sau, qua đầu) – Tay cháu đâu, hãy nắm lấy tay bác!
Poupée – ứ, bác!
Ô. Hiệp – Chẳng hay cháu có tay để nắm tay bác không, hay là cái anh con giai ngồi cạnh cháu đã nắm cả rồi.
Poupée – ứ, bác!
Ô. Bích – Nghe bác đếm đây, từ một đến ba mà không thấy cháu thì ôi thôi… Một…Tay cháu đâu…Hai…Oi cháu ôi là cháu ôi…
Poupée – Bác làm như cháu chết rồi không bằng, bậy quá!
Ô. Hiệp (quay lại) – Cháu có biết cách người Tây Phương tặng hoa không?
Poupée – Sao bác?
Ô. Hiệp – Khi người đàn ông tặng người đàn bà một bó hoa hồng, thế là người đó muốn tỏ tình đấy, lần thứ hai tặng hồng mà người đàn bà vẫn nhận, ấy là đã nhận tình yêu. Thường thì lần thứ ba người đàn ông gửi tới bó hoa pensée ấy là người ấy muốn xin được… hôn cháu.
Poupée – ứ, bác!
Ổ. Bích – Không phải chỉ muốn hôn mà còn muốn…
Ông Bích ghé sát tai Poupée nói thầm, Poupée rẫy nảy vừa kêu “Bác, bác!” vừa cười, vừa lườm!
“Lũ giặc già này thật cynique- Tân nghĩ thầm.
Ông Xương đã cho dừng xe trước một Villa tráng lệ có cảnh binh canh ngoài. Villa này ở vào khoảng trung tâm thành phố và nếu ngồi ờ sân thượng chắc chắn sẽ nhìn được toàn vẹn cảnh hồ Hoàn Kiếm, ống Xương bảo Tân hãy lái xe đi chơi lăng quăng đâu chừng nửa giờ thì quay lại bấm còi, rồi cả ba ông và Poupée cùng xuống xe để vào biệt thự.
Nửa giờ sau, Tân quay lại, bộ bốn đó cũng vừa ở trong biệt thự ra. Ông Xương ngồi cạnh tay lái của Tân, hàng ghế dưới Poupée ngồi giữa hai ông Hiệp, Bích. Poupée xin được trở về ngay, Tân lái xe lên phía bờ sông để rồi theo đường lớn đó phóng về Yên Phụ. ông Bích ông Hiệp thay phiên nhau ghé tai Poupée nói thầm và Poupée luôn miệng nói “ứ, bác!- Bác!- Bác bậy quá à!” Và tiếng hai ông cười ngặt nghẽo.
Poupée về rồi, ông Xương đề nghị cả bốn đi ăn chim quay Siêu Nhiên. Có bốn người mà ông Hiệp gọi hai chai vang. Rượu vào nhời ra, ba ông Xương, Hiệp, Bích, nói về Poupée.
Poupée mồ côi mẹ từ sớm, tên nàng là Nguyên, cha nàng cũng làm nghề thầu. Năm ngoái Nguyên vừa tới tuổi đôi tám, ông bố dùng Nguyên trong việc “ngoại giao” để tranh mối thầu. Việc đó không dấu được ai. Nguyên xin thôi học (vì cô ở lại trường cũng bị đuổi), nàng trở về trông nom sổ sách cho cha. Có những gã ăn chơi tìm gặp nàng rủ nàng đi. Nàng từ chối – bao giờ nàng cũng từ chối – nhưng vẫn đi. Sau mỗi lần đi gã trai nhét vào tay nàng tiền, rất nhiều tiền, nàng không cần tiền nhưng cảm thấy gần đàn ông hay hay. Rồi đến “các bác” nữa. Giáo dục gia đinh với nếp sống vô liêm sỉ của người cha đã phá hủy trong tâm linh nàng thứ tình cảm coi việc trao thân là một cái gì tối thiêng liêng. Nhưng dù sao thì nàng cũng chỉ là cô gái mười sáu mười bảy mới lớn, nếu ngươi cha phá huỷ thứ tình cảm kia trong việc dùng nàng để “ngoại giao” thì nếp sống hồn nhiên của tuổi nàng vẫn giữ cho nàng những cử chỉ, những lời nói, những tình cảm thơ ngây khác. Thanh thư Tân thấy ở nàng là cả một nếp sống mâu thuẫn xé lòng. Thủ hiến phủ đương cố tung người đi giao thiệp với một số nữ sinh nghèo để sửa soạn dân cho tên trùm chính phủ bù nhìn sắp tuần du Bắc Việt. Việc này mà làm đẹp lòng tên Thủ hiến thì có thể thầu được con đường dải đá từ ồ cầu Giấy chéo sang đường Chuôi vồ, nơi có một Francis Garnier. Các “bác” bèn nảy ra sáng kiến dùng Nguyên, ông Xương đã tìm gặp Nguyên từ chiều hôm trước. “Cháu chịu thôi, không đi đâu”, Nguyên nói thế, nhưng ông Xương đã biết tính bèn át giọng: “Liệu hồn đó, mai tám giờ rưỡi đã phải sửa soạn xong rồi, nghe tiếng còi phải ra ngay nghe không”.
Giấc ngủ trưa của Tân chập chờn, chàng thấy hơi bứt rứt khó chịu nửa sót thương nửa hờn giận nếp sống của Nguyên, ôi khuôn mặt của nàng, khuôn mặt thiên thần nhưng hơi thô! Nhưng nỗi buồn ray rứt đó không kịp kéo dài, Tân đã phải cùng ông Xương đi Nam Định ngay khoảng hai giờ chiều: một đồn xây ở ngoài châu thành Nam Định trên con đường đi bến đò Tân Đệ do ông Xương thầu đã hoàn thành.
Tới nơi, công việc bàn giao xong vừa sáu giờ chiều.
Tân cho xe chạy dìu dịu để còn ngắm cảnh mây chiều trôi nhẹ theo gió. Dòng sông nhỏ xa màu xanh lục, khoảng đồng nước gần đó láp lánh như hồ, một con lạch đôi bờ cỏ từng lùm vàng ánh, và bên khoảng đồng nước là cả cánh đồng lúa sắp chín rỡ ràng nhuộm màu nắng quái. Một đồn binh xuất hiện ở khúc quành xa, thấp thoáng mấy tên lính lê dương cởi trần màu da nâu xẫm, đầu đội ca lô xanh. Buổi chiều êm ả, chiếc xe của Tân đã lướt tới khúc quành có đồn binh lê dương ngay bên.
Tiếng ông Xương hốt hoảng:
– Chết cha, khéo nó bắn!
Ông vừa dứt lời, một tiếng nổ chát chúa, đồng thời mặt và tay Tân cảm thấy những gì như kim đâm, kính chắn gió vỡ tan. Tân thoáng nhận bằng đuôi mắt hình ảnh mấy tên lê dương cùng say lảo đảo, một tên vừa bất ngờ giơ súng bắn. Chân ga nhấn mạnh thêm, chiếc xe vụt chồm lên vì vấp phải ổ gà. Tiếng cười nói của lũ lính say đuổi theo đầy vẻ riễu cợt:
– T’as raison ha ha ha!
– T’sais… ça pète!
Giong chàng hỏi ông Xương hơi hổn hển:
– Ồng xem mặt tôi có việc gì không?
Ông Xương đã xem kỹ:
– Không sao, thằng say chỉ bắn vỡ kính chắn gió, mảnh vụn làm đỏ trên má như mấy nốt muỗi đốt, không sao.
– Mảnh vụn mà văng vào mắt thi chết tôi rồi còn gì.
Xe đã vào thành phố cả hai chưa định thần hẳn, tiếng máy GMC vo vo phía sau, tiếng còi đòi vượt, tiếng còi như tiếng chửi thách thức ném vào mặt hai người. Tân nhả bớt ga lái sát vào lề nhường đường. Tránh voi chẳng xấu mặt nào, lại lũ lê dương! Chiếc GMC phăng phăng vượt lên, vừa tới ngã tư rẽ sang trái. Tân thoáng thấy bóng một người đàn bà tay xách làn mây hốt hoảng định nhảy lên vỉa hè, nhưng không kịp. Tiếng thắng ghê rợn! Tân đã dừng xe đúng ở góc cạnh nhìn rõ kẻ tử nạn. Đời chàng cho tới hôm đó mới hiểu thế nào là chết tươi: người đàn bà bị hất ngang tung lên một chút rồi ngã ngửa, đầu vỡ tan, óc và máu hòa vào nhau thành mọt khoảng bầy nhầy, cả khuôn mặt giờ đây bẹt lại chỉ còn bằng chiếc chôn bát, chân tay bà còn rẫy… Người tự bốn bề ngã tư đổ xô lại vây xung quanh, xác chết đã hết rẫy.
– Khổ chưa!
– Lại xe lính!
– Mới tuần trước một GMC lao vào tiệm sách ở phố Hàng Giấy, ba mẹ con đương ăn cơm chết tức khắc.
– Hình như vì không giết lại được ai ở mặt trận nên về căn cứ chúng giết lương dân trả thù.
Xe Tân vẫn dừng nguyên chỗ cũ, chàng đã gạt cần về số không tắt máy mà chàng còn bàng hoàng có cảm tưởng như máy vẫn nổ dìu dịu và chiếc xe còn bồng bềnh như con thuyền trên một dòng sông xuôi miết

Hết Chương 8. Xem tiếp Chương 9

 

 

Tìm Kiếm