…..

Doãn Quốc Sỹ
Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến
Phần II
Chương 18
CHIẾC BÈ NỮ CHÚA

 

Kha trở lại căn phòng bên bờ sông của chàng. Những nhà bên cạnh ăn uống lu bù trước khi xuống tầu di cư vào Nam. Xương gà, xương vịt, xương lợn vứt xuống sông theo nước xuôi dòng, quanh nhà vẫn sạch mát. Khi nước triều rút, thấp thoáng bùn và mùi tanh, mùi tanh kích thích sự sống, kích thích lòng ham sống.
Chàng còn ở Hải Phòng thêm tới mười ngày nữa chứng kiến cảnh buôn bán “chuyến tầu vét”: những người di cư vào Nam tìm được nơi ăn chốn ở rồi bèn buôn từng chuyến tậu gạo, đường, đỗ, lạc… ra Hải Phòng bán cho những người Tàu ở lại. Chính phủ quốc gia nhân đạo sợ đồng bào miền Bắc đói, không cản trở việc tiếp tế lương thực như vậy, còn những người Tàu ở lại, họ ưng buôn hàng vào, vì giữ hàng còn hơn giữ tiền Đông để sau này phải đổi lấy tiền “Cụ” bằng giá chính thức.
Dân chúng nội địa vẫn tiếp tục tìm đủ mọi cách thoát khỏi nanh vuốt kiểm soát của cán bộ cộng sản, tới đất Cảng. Đồng bào di cư bằng đường thủy vẫn túc trực chờ từng chuyến, rồi “tầu há mồm” (L.C.T) cập bến dẩn các đồng bào lên chiếc tầu lớn nào đó của Hạm Đội Thứ Bảy Mỹ đậu ngoài khơi Hạ Long…
Kha vào Nam cũng bằng đường thủy. Chàng đến khu lều Thăng Long của Đoàn Sinh Viên Di Cư Hà Nội – khu lều này được dựng trên nền khám lớn cũ và sau đây là nơi xây cất Đại Học Văn Khoa. Chàng bắt tay vào điều khiển giúp tờ nguyệt san của Đoàn. Chàng cũng tìm ngay đến trụ sở mới của tòa soạn Văn Hóa, gặp Khiết, Khóa, Luận rồi Tân. Chưa kịp gặp Hiển, chưa kịp gặp Miên chàng đã nhận được lá thư đầu tiên của Vân gửi đến tòa soạn Văn Hóa, rồi lá thư khác … lá thư khác nữa …

 


Hải Phòng ngày…
Anh yêu dấu,
Em đã trở lại Hải Phòng, trở lại villa đường Lạch Tray cùng với nữ chủ nhân sau khi đã đưa me em về đồn điền Thanh Ba cải táng cho ba em. Me em nói với em ngay buổi tối công việc vừa xong: “Bây giờ thì me có thể chết được rồi!” Me em nói đúng, trận ốm thập tử nhất sinh vừa rồi sở dĩ người còn cố vùng vẫy luột khỏi bàn tay Tử Thần vì người cương quyết muốn vậy, người phải trở về đồn điền để cải táng cho ba em xong, rồi có sao hãy hay. Người đã mãn nguyện và giờ đây người sống cũng như chết, bởi với người bất cứ cặp danh từ đối lập nào, sống với chết, hạnh phúc với đau khổ v..v.. đều mất hết ý nghĩa. Đạt tới Nát Bàn trong cõi Phật phải chăng là đạt tới trạng thái tinh thần này ? Vùng trời bình yên của me em rộng lớn đến nỗi người khiến em bình yên lây, người giúp em thấy trước bất cứ lúc nào người nằm xuống, ấy là người về cảnh Phật với ba em và tới lúc đó em không phải khóc, em chỉ việc giữ cho cõi lòng được thanh tịnh để chia vui với người. Em đưa người về Định Quyết, rồi em cùng người bạn gái chủ nhân chiếc villa cùng trở lại Hải Phòng. Vừa hai mươi ngày qua kể từ ngày em dời khỏi vòng tay anh … Em kê bàn ngay đầu giường viết cho anh những giòng này. Hình như bức thư để lại lần trước của em tận cùng bằng: “Con đường từ đây ra ga dài như có đại dương, có sa mạc …” Nhưng từ lúc đã lên ngồi gọn trong toa xe em hết buồn, em như một xác chết đã ướp kỹ lưỡng và giữ nguyên được sắc sống. Có phải vì vậy em càng thông cảm được miền bình yên rộng lớn của me em hiện giờ ? Mà đúng thế, từ nay em có thể sống như một xác ướp vì em chẳng còn ân hận gì nữa, vì mọi sự xảy ra đúng như ý em sắp đặt: xuống Hải Phòng, gặp anh, hẹn anh, được anh chờ, đi ăn cơm cùng anh trước khi vào đêm… hợp cẩn. Bảy ngày trong vòng tay anh qua đi, ngắn đấy mà cũng dài đằng đẳng ân tình trong hồi hộp lo âu của em. Giờ đây em chỉ còn chờ…. Nếu điều chờ đó mà được thỏa nguyện thì em là một hóa công nhỏ muốn sao được vậy; nhược bằng điều chờ đợi đó không thành sự thực thì cũng chẳng sao. Điều gì đó ? – Một điều rất tầm thường nhưng chẳng bao giờ đàn ông là anh ngờ tới vì chính em cũng mãi đến phút bừng sáng kia mới khám phá ra nguyện vọng ấy của mình. Nhưng thôi, hãy để em tuần tự thuật chuyện. Em có nhiều chuyện để nói, em muốn nói hết những chuyện đó, kể cả những chuyện thật bông lông giờ đây với em cũng đầy ý nghĩa, em sẽ viết dần từng ngày, gửi đến anh từng bức thư, mỗi bức thư mang một khuôn mặt vô tận khác nhau. Em không tự hẹn là sẽ ở lại đất Cảng mấy ngày, viết cho anh mấy lá thư, chỉ biết sau bức thư cuối cùng, em sẽ là người rẽ vĩnh viễn vào một khúc quành.
Ngày đó về đến ga Phú Thái, xe hỏa như thường lệ ngừng lại để đợi kiểm soát. Trước khi xe lại chuyển bánh, em đã ngắm khá lâu một căn nhà tranh cách đó không xa, ngay trước cửa có chiếc mộ xây. Không hiểu sao lại có chiếc mộ vô chủ ở đó, đây là tha ma cũ, những mộ đất đã được san bằng, chỉ còn sót lại chiếc mộ xây này được người sống kiêng nể ? Ngôi mộ lúc trông như hình con rùa, lúc như hình con voi phục. Hình ảnh người sống người chết sát nách nhau thật ngồ ngộ. Còn gì đau khổ cho bằng sống trong tay nhau mà ngột ngạt, như trường hợp em với người chồng quá cố, mà với anh thì trước đây em luôn luôn thức tỉnh để lẩn tránh, thật vô lý, em chẳng hiểu vì sao, có lẽ vì em hiểu em đam mê anh như thiêu thân đam mê lửa và khi em đã quyết định tự để lọt vào tay anh, lập tức em tan hòa thành mây khói. Em chạy trốn hạnh phúc để có cảm tưởng rằng em mãi mãi còn hạnh phúc. Em biết rằng nếu đã không được sống mấy ngày thần tiên với anh ở đất Cảng trước ngày tiếp thu này, thì chưa chắc em đã để ý nhiều đến sự phối hợp kỳ lạ của chiếc mộ xây cùng căn nhà ở, chưa chắc em đã khám phá thấy vẻ ngộ nghĩnh của hình ảnh người sống cùng kẻ chết sát cánh bên nhau.
Em biết như thế lắm anh ạ. Năm ngày sống bên anh, ngọn thác lũ như êm đềm của Tình Yêu, đã gọt cho em – em tin rằng mãi mãi – những gì là ngờ vực, hờn giận vẫn từng vò nát tâm hồn thế nhân. Kể ra em còn có thể ở với anh ít ngày nữa, nhưng để làm gì, đằng nào cũng một lần chia tay; đau khổ đã dạy em biết khôn ngoan điều độ, em tự động rút lui khi vừa đạt tới tột đỉnh của niềm vui, như người leo núi nhũn nhặn chỉ tự cho phép mình đứng trên ngọn đỉnh trời vừa đủ thời gian cắm lá cờ danh dự rồi bình thản bước xuống. Phải không anh, không sự thành công nào kéo dài – nhất là kéo dài với niềm kiêu hãnh – mà lại không gây thêm những khó khăn mới. Em muốn được ôm trong lá cờ chiến thắng thể hiện. Ồ buồn cười thật, anh có hiểu ý em khi nói “muốn ôm trong lòng lá cờ chiến thắng thể hiện ?” Rồi anh sẽ hiểu.

 

Khi con tàu bắt đầu chuyền bánh đi vào vùng tiếp thu, em còn nhìn ngôi mộ và căn nhà một lần cuối, thu hình ảnh đó vào tâm linh, rồi khi nhắm mắt lại, em nhớ vòng tay anh ôm và lời anh kể thủ thỉ bên tai đêm nào: “Anh đã trèo lên đỉnh ngọn Khau Loòng, ngọn núi cao bậc nhì của Lạng Sơn, mồ hôi vã ra, anh khát nước, anh thỏa thuê giải khát bằng những quả sim chín mọng tím đen to bằng ngón chân cái một và nhìn xuống bên dưới vai mái nhà sàn cùng cả khoảng dài con sông Kỳ Cùng nước đỏ vẽ những hình vòng cung – đôi chỗ suýt thành hình chữ O – trên nền mạ xanh của thung lũng, bờ ruộng là màu chỉ xanh thẫm hơn”.
Tiếng đầu máy chuyển động xình xịch đều đều, em vẫn nhắm mắt để chuyển hình ảnh mái nhà tranh trước cổng có ngôi mộ xây lên một đỉnh non cao tựa như đỉnh Khau Loòng của anh, có lẽ cao hơn anh ạ, vì em cảm thấy vắng lặng lắm, nhìn xuống tít bên dưới có con sông nước trong hay đục, nhưng tuyệt nhiên không có một mái nhà, chốn đó xa lìa hẳn trần gian náo động, chốn đó hình như chim cũng không bay tới được, chỉ có mây xà xuống rồi vướng lại thôi. Anh còn nhớ đêm nào ờ đây, anh hôn lên vành tai em rồi nói: “Chiếc bè nữ chúa, hãy chở anh ra ngoài khơi không gian”. Giờ đây hình ảnh đỉnh non cao như đè lên em, và cả trái núi, cả mái tranh vắng lặng cùng chiếc mộ xây cô tịch cùng tiến ra khơi không gian.
Thư sau anh nhé.
Hôn anh,
Em
 

 

Hải Phòng ngày…
Anh yêu dấu,
Cuộc đời thì bất trắc mà tình yêu của chúng ta thì chân thành thế là đủ rồi, bởi tình yêu trùm lấy cuộc đời như bóng hoa lá ngoài vườn đêm nào theo ánh trăng tràn vào đu đưa theo gió trùm lên chiếc màn của chúng ta khiến em có cảm tưởng tình yêu của anh đương ủ em dưới bóng rừng lay động huyền ảo. Em yêu anh đến không còn tự chủ được nữa.
Dinh cơ của ba mẹ em ở làng Định Quyết giờ đây hoang tàn quá anh nhỉ. Bao nhiêu cây cối xưa đâu cả, một vài cây còn lại cũng cằn cỗi. Em còn nhớ những cây ổi găng ngày xưa quả lớn, ít hột, cùi trắng như lê, các bạn em ngày nghỉ về chơi giải chiếu nằm dưới gốc chỉ khẽ nghển lên cũng với được trái ăn, chúng nó mê tơi về cây cối hoa quả nhà em. Em còn nhớ cây roi sai quả, nhất là sau trận mưa, lá được rửa xanh mướt quả từng chùm chi chít trắng nõn. Em còn nhớ cây muỗm ở gần giếng, trên cây này ba em làm chuồng chim bồ câu, xung quanh giếng có mấy hàng dứa. Ồ, hai mươi cây na quanh vườn, hoa na vào mùa hè thơm mùi rượu nếp, trái lớn vào mùa thu; tháng bảy, tháng tám, có sáng chủ nhật em soát lấy được mấy khay đầy những na tơ, mỗi quả to bằng cái bát, lúc hái cuống vứa nứt, hái buổi sáng, buổi trưa đã mềm, ăn ngọt sắc, những quả chín bỏ quên, chim đến tranh ăn làm tụt xuống trơ cuống trên cành. Anh còn nhớ hoa đào hoa mận trong vườn nhà em nở vào dịp Tết ? Trên các cành đào cành mận thường có những cục nhựa dính như keo, trong như hỗ phách, đào nở hoa về Tết nhưng đến tháng năm mới có quả chín. Sáng hè chủ nhật nghe tiếng ve sầu kêu em dậy thật sớm, rón rén ra vườn rình bắt ve sầu, khi chụp được, khi thì nó bay vù. Trước hiên nhà có mấy cây hồng, hoa to bằng cái tách và rất nhiều thứ cúc bướm, hoa đủ màu tím, vàng, đỏ, trắng hòa lẫn với hoa loa kèn đỏ xẫm cỏ vườn từng khoản xanh um, có châu chấu cào cào. Hoa móng rồng xung quanh hàng hiên tối đến thơm mùi mít. Lẫn vào với cây móng rồng là giàn hoa ớt leo lên tận mai, Tết đến hoa nở từng chùm đỏ ngoài hiên. Sát bờ rào là mấy cây ngọc lan và hoàng lan cao vút, hương thơm thoang thoảng cao quý lạ. Đặc biệt xế buồng em có giàn thiên lý, nhiều đêm em chợt tỉnh nhớ đến anh (bây giờ thì em dám nói thực điều đó) và đón hương thiên lý thơm mát theo gió lùa vào cửa sổ. Anh còn nhớ đên rằm nào khóm quỳnh nhà em nở mười bảy bông nền, ba em pha trà sen, mua bánh đậu Nguyên Hương Hàng Bông về để chờ xem hoa nở dưới ánh đèn măng xông sáng xanh, ôi, những bông quỳnh trắng tinh nở vào đúng lúc nửa đêm, các anh thì bảo trông như hàm rồng, em thì thấy như những cái nôi tinh khiết của thiên thần. Buổi chờ xem hoa nở đó đông đủ các bạn của ba em, các bạn của anh Hãng, anh ngồi dối diện với em. Đêm đó, chứng kiến các bạn học của anh Hãng lăng xăng chiều chuộng em, anh có lo lắng?
Em ôn lại được hệt khung cảnh cũ, anh thấy không ? Viết đến đây em thấy mình trẻ lại thời đó, bâng khuâng y như thời đó. Em ôn lại như vậy cũng chỉ đặt anh vào đúng khung cảnh xưa, em viết lại cũng chỉ để riêng anh đọc. Rồi đây em còn nhớ lại những thứ ấy làm gì ?
Hôn anh,
Em.

 

Hải Phòng ngày…
Khi vĩnh biệt anh, em còn giữ được một tờ bản thảo, em muốn giữ bút tích anh, hôm nay mới giở ra, qua những giòng rập rập xóa xóa em đọc:
Tôi cất tiếng cười cùng với chuông nhà thờ rền rỉ; tôi nghĩ đến những người mất tự do vì muốn độc quyền Thượng Đế.
Nàng ca sĩ trẻ tuổi, buổi đầu thất bại. Nàng ngã vào tay người yêu tìm an ủi. Tôi yêu người con gái mảnh khảnh đó, đôi mắt đen bỡ ngỡ làm ngỡ ngàng cả bóng chiều, nàng mặc áo sọc xanh nhạt, ngồi nép mình trên phản nghèo.
Tình yêu nuôi tự do!
Nàng ca sĩ nào đó, anh ? Em ghen! Em ghi thêm tư tưởng của em:
Trong chín mươi chín lần khổ tất nhiên cũng có lần sung sướng, lần sung sướng đó thường làm quên hết chín mươi chín lần lận đận kia. Chân hạnh phúc dưới bất cứ hình thức nào đều cho ta cảm giác vượt khỏi cái sống chết.
Hôn anh,
Em.
 

 

Hải Phòng ngày…
Anh yêu dấu,
Anh còn nhớ đêm nào anh và em cùng sực dậy lắng nghe tiếng muỗi và anh nói: “Tiếng muỗi trong đêm khuya nghe xa vẳng lạ, như tiếng than van của tạo vật thuở còn cô độc chưa có bóng người, chưa có nghệ thuật”.
Đêm nay em cũng thức giấc như vậy, một mình lắng nghe rất lâu tiếng muỗi, bụng em thót lại … em rùng mình ớn lạnh. Đúng thế anh ạ, tiếng muỗi trong đêm khuya nghe xa vắng lạ, như tiếng kêu chới với từ một tiền kiếp nào vẳng lại. Đã có một đêm anh nói với em giữa hai cái hôn dài: “Tình chúng ta chỉ có im lặng mới nói hết được”. Chao ôi, nhưng nếu giữa cái im lặng phì nhiêu đó của đêm khuya lại có tiếng muỗi ? Trong khi mắt em mở trân trân trong bóng tối, tiếng muỗi – tiếng tiền kiếp – du em vào miền hư không, tim em đập trong hư không, đôi tay em nắm vào hư không, sự vỡ lở của hạnh phúc thế nhân tan rời êm lặng trong hư không. Em nhớ lại những đêm hè tháng năm tháng sáu thuở còn con gái, về quê không ngủ được: không một sợi gió, thấp thoáng ánh trăng qua khe cửa và trong màn em cũng lắng nghe tiếng muỗi cô độc não nùng chập chờn bên ngoài…
Em đã vùng dậy bật đèn ngồi vào bàn viết những dòng chữ của bức thư cuối cùng này, vâng bức thư cuối cùng anh ạ, bức thư thứ tư thì phải, mai em về Hà Nội sớm, em không thể ở lại đây lâu hơn được nữa. Bây giờ thì em có thể kể thẳng vì sao em đã vội vã xuống đất Cảng tìm anh.
Hiệp định Genève ký, đoàn thể giữ khéo con em lại và cử em về Hà Nội để thuyết phục những người thân. Em đến tòa báo Văn Hóa hỏi thăm tin tức về anh, đúng lúc anh Khiết vừa tiễn một người bạn tới cửa, câu cuối cùng người bạn đó nói với anh Khiết :
– “… Tớ ở lại chúng nó không giết tớ đâu, các cậu cứ vào Nam, ai làm được cái gì thì làm, nhưng tớ ở lại, giờ phút này mới là bắt đầu kháng chiến!”
Trở vào tòa báo anh Khiết cho em hay anh đã xuống Hải Phòng để chờ ngày cùng người bạn gái làm ở nhà thương cùng vào Nam bằng đường thủy. Có lẽ anh Khiết cho rằng dĩ nhiên em cũng sẽ đưa me em di cư vào Nam nên ghi cho em địa chỉ của anh, của cô Miên ở Hải Phòng và cả địa chỉ tòa báo Văn Hóa tại Sài Gòn mà anh Khóa vào trước đã thu xếp cho.
Cả ngày hôm đó me em kêu rức đầu, buổi chiều người sây sẩm mặt mũi ngã ngất. Em về đúng lúc để săn sóc người, hình như người đã cố gắng gượng chỉ để đợi em về. Anh Khiết lại thăm, em thú thực với anh là hoàn cảnh buộc em ở lại, me em cũng không vào Nam mặc dầu thư gởi sang Pháp em phải nói ngược lại cho anh Hãng yên lòng. Lần đó anh Khiết nói chuyện với em lâu bằng một giọng tâm sự. Để em thuật lại gần đúng như lời anh Khiết đã nói với em hôm đó.
“Theo ý tôi – lời anh Khiết – ngoài những trường hợp đặc biệt hoặc bất khả kháng như trường hợp của bác và của cô đây, ở lại còn bốn hạng người chính. Thoạt phải kể đám đa số quần chúng chưa biết gì về Cộng sản, họ mừng nhất. Tội nghiệp !
Ba hạng sau này, có ý thức mà ở lại, tôi đều có bạn điển hình :
Người bạn thứ nhất, anh Lâm theo Đảng, tin Đảng thuần bằng tình cảm, có công cướp chính quyền ở Hải Phòng năm 1945, được Đảng đặt vào làm nhân trong Dân Chủ Đảng, từng là ủy viên trong ủy Ban Hành Chính Hải Phòng. Kháng chiến, được ủy vào làm trong cơ quan văn hóa của công an Liên Khu III. Chứng kiến một người bạn thân trong Dân Chủ Đảng bị thủ tiêu giữa sông, kế tiếp đó còn được chứng kiến bao hành vi bạo tàn khác, vỡ mộng, chán chường, vì quá tin tưởng mà thành chán chường, cái chỗ mình tin là sán lạn nhất lại hóa ra tăm tối nhất. Con người tình cảm đó đã chót cho hết, cho hết tuổi hoa niên đẹp nhất, cho hết niềm tin tưởng nồng nhiệt nhất, cho đến khi nào thành chỉ còn là con người trống rỗng, ghê tởm chính giới, thây kệ những danh từ Tự Do Độc Lập giả trá, mình tự cho mình chút ít sinh thú nhỏ mọn: làm một chân thư ký quèn, ăn một miếng cơm, yêu một người bạn, ở độc thân, nuôi thằng cháu nhỏ mồ côi cho đi học, đầu tháng mà dư tiền thì mua chai vang nhắm với thịt lợn sữa quay, cuối tháng hụt tiền thì mua một cút rượu ngang với mấy đồng bạc tai heo. Không xét mình mà cũng chẳng xét người. Giờ đây Cộng sản sắp về thì về, biết rằng bão sắp đến thì ngồi chờ bão. Muốn tránh bão tất phải chạy – thiết gì chạy ! Kẻ ra đi là để tiếp tục tìm kiếm, mà đổi mới, xây dựng, mình thì còn gì nữa đâu mà tìm kiếm, mà đổi mới, mà xây dựng ? Và Lâm nói với tôi: “Nếu không sống được thì anh cứ tin rằng tôi tự tử, cái quyền đó chúng không lấy được của tôi !”.
Người bạn thứ hai: anh Mỹ, một nhà văn hóa, trước có giao thiệp nhiều với phe Đệ Tứ. Kháng chiến, có vào đoàn thể cứu quốc, nhưng để chống đối nhau với Cộng sản, đến khi không chịu được thì về thành. Nay đã trên bốn mươi tuổi, mới lấy vợ, vợ đương có mang, lại mới tậu được căn nhà nhỏ làm chút tư hữu. Tuổi bốn mươi trở ra bắt đầu có khuynh hướng an phận thủ thường níu giữ chút gì mình có, biết rằng ở lại thì… ngột ngạt hương hoa, nhưng ra đi bỏ lại thì không đành, rồi tìm cớ để tự an ủi: “Sài Gòn đất tốt thật nhưng cây cao mà rễ nông, nền văn minh căn bản của dân tộc rồi trước sau cũng phải về bắt rễ ở đất Thăng Long này”. Và Mỹ ở lại.
Người thứ ba là Hữu vừa ra khỏi đây, cô gặp đấy. Tôi quý Hữu vô cùng, Hữu tin là dân tộc mình không những có khả năng mà còn có thiền mệnh mang lại cho nhân loại một nền văn minh mới quân bình Tình với Lý, hòa hợp Người với Thiên Nhiên… Anh vẫn nói dân tộc mình đau khổ mấy ngàn năm rồi mà vẫn trường tồn tất phải có thiên mệnh nào chứ ! Anh bị Cộng sản bắt giữ ngay từ đầu kháng chiến, di chuyển hết trại giam này sang trại giam khác, cứ trơ trơ như vậy. Nhốt chán họ thả anh ra, thì thấy trong tù hay ngoài tù anh cũng cứ “tỉnh bơ” như vậy, sau cùng họ không buồn kiểm soát nữa, liệt anh vào hạng cuồng chữ, học giỏi biết nhiều, mở miệng bàn toàn những Hà Đồ, Lạc Thư, Thiên Cơ, Bát Quái… Khi vào Thành gặp bạn nào anh cũng nói bằng tiếng Pháp: “Tao đã lăn lóc hết các nhà tù của chúng nó mà tao không chết !” Bây giờ thì Hữu cương quyết ở lại, tuyên bố thẳng với các bạn bè thân tình: “Tớ đã có nhiều kinh nghiệm với chúng nó, ngày nào chúng nó mang cái mất độc lập về, ai cũng đi cả thì ai ở lại kháng chiến ? Tớ ở lại, chúng không giết đâu. Các cậu cứ vào Nam, ai làm được cái gì thì làm, nhưng tớ ở lại, giờ phút này mới là bắt đầu kháng chiến”.
Tôi lại còn một số bạn nữa là Cộng sản chính cộng – (lời anh Khiết đến phần kết thúc) – họ hay tin tôi cương quyết vào Nam bèn viết thư nói kháy: “Thông minh như mày mà cũng đi theo đế quốc xin cơm thừa canh cặn của chúng sao ?!”
Nói chuyện với em đến đây anh Khiết cười lớn rồi ra về. Bệnh tình của me em thuyên chuyển dần. Em sưu tầm đọc thơ văn anh. Không còn được gặp anh nữa thì tìm lại hình ảnh anh trong tác phẩm vậy. Trước khi đưa tiển gia đình và Nam, anh Khiết còn tới chào me em lần cuối. Rồi Hà Nội tiếp thu, em gặp cô bạn cũ mới tậu rẻ được một chiếc villa ờ đường Lạch Tray Hải Phòng. Cô bạn lên Hà Nội chờ gặp cha, anh và chồng sắp vào tiếp thu… Anh biết đấy, em đã mượn chìa khóa villa của chị bạn xuống tìm anh ở đất Cảng.
“Tớ ở lại chúng không giết đâu, các cậu cứ vào Nam, ai làm được gì thì làm, nhưng tớ ở lại, giờ phút này mới là bắt đầu kháng chiến!”
Chính câu nói đó của anh Hữu đã ngấm ngầm tác động mạnh vào trí tường tượng của em là em nẩy ý kiến xuống Cảng tìm anh. Me em ở ngoài này, con em ở ngoài này, em phải ở lại chứ, vả em cũng quen với đời sống đó rồi. Nhưng em phải xuống Hải Phòng tìm anh, nhất là vào dịp đó, dịp em có thể… thụ thai. Em muốn giữ lại miền Bắc một kỷ vật của anh, em muốn nuôi nấng đứa con đó – nếu có – theo tinh thần phóng khoáng của anh ở ngay miền tỉnh cảm cằn cỗi này. Âu cũng là một cách kháng chiến đúng với tinh thần của anh Hữu, nhưng theo kiểu của em. Em nhớ anh Khiết hôm đầu có nói với em là anh xuống Hải Phòng để chờ ngày cùng cô bạn gái làm ở nhà thương cùng vào Nam bằng đường thủy. Em chỉ còn biết cầu trời anh chưa vào Nam, cầu trời cho em được gặp anh một lần cuối, cầu trời tránh cho em niềm tủi nhục vồ trượt hạnh phúc trong lần gặp mặt quyết định này, em lẩn trốn anh đã nhiều rồi, anh yêu dấu.
Trời đã cho em toại nguyện!
Giờ đây em còn cảm thấy những ngón tay anh như những con rắn nhỏ đam mê miết sát lấy da đầu em, bám chắc lấy chân tóc.
Em chẳng cần giữ ảnh của anh làm gì, bởi cái đẹp của người đàn ông là ờ nếp sống phóng khoáng hay phong trần, mà nếp sống thì người ta không thể chụp được. Anh ơi, có bao giờ người đàn ông quên người đàn bà đã sinh con cho mình ? Hai mươi ngày qua rồi ! Em cần xuống Hải Phòng nhìn lại lần cuối khung cảnh ân ái của chúng ta và để kịp viết cho anh ít trang thư như anh đã nhận, rồi em trở về Hà Nội trước khi triệu chứng – nếu có – bắt đầu. Em không muốn để anh phải bận tâm thắc mắc về việc này. Trong vòng tay anh, từng tế bào em rung động, nếu cứ tưởng tượng mỗi tế bào là một vì tinh tú thì thân thể em là một vũ trụ bao la – bao la mà có biên giới – hàng triệu triệu tinh tú run rẩy bối rối trong từng quỹ đạo riêng, nhưng nhìn tổng quát thì sự run rẩy đó – kể cả khi cuồng loạn nhất – vẫn theo một trật tự nhịp nhàng nào đó, bởi sự nở rãn của vật chất không sao đuổi kịp sự nở rãn của tinh thần, mà tinh thần thì nhẹ hơn thinh không, và sức sáng láng của tinh thần dù có chói lòa cùng không vì thế mà làm lật nhào khối lượng. Em đã nói hết, anh yêu dấu của em ờ bên kia vĩ tuyến ! Với anh giờ đây em cũng là “người đàn bà bên kia vĩ tuyến”. NGƯỜI ĐẢN BA BẾN KIA VĨ TUYẾN của anh đã chấm dứt hàng chữ cuối cùng của lá thư cuối cùng này ở đây.
Hôn anh một cái hôn làm nổ vỡ tinh cầu nhưng tình chúng ta thì chói rạng mãi mãi.
Vĩnh biệt anh,
Em. 

Hết

 

(Nguồn: Việt Nam Thư quán)


Tìm Kiếm