…..

Nguồn gốc văn hóa Việt và sự thành lập nước Tàu

 

IMG.800Nước Tàu mới có từ khoảng 20 thế kỷ trước Tây Lịch và chính thức gọi là Tàu là từ đời nhà Tần năm 221 trước Tây Lịch. Khởi đầu của lịch sử nước Tàu trước Tần là nhà Hạ, Thương, Chu.

     – Nhà Hạ kéo dài 439 năm (2205 – 1766 trước T.L)

     Tiếng Hạ không phải là tên chủng tộc mà là chỉ một mảnh đất nhỏ ở mạnNam sông Hoàng Hà, đối với người mạn bắc thì nam kể như là hạ.

    – Nhà Thương kéo dài 612 năm (1766 – 1154 ) trước T. L. Về văn hóa thì phát xuất từ Hoài Di, Việt. Bà Giản Địch tổ nhà Thương sinh con theo lối dã hợp của Di, theo mẫu hệ, gọi tên theo lối Việt như vua Đế Ất. Khi đánh nhau với nhàChu thì hầu hết là nhờ quân Di. Mà Di với Việt có liên hệ chặt chẽ về cả tiếng nói và cùng một gốc Nam Á. Tộc Thương chỉ là một bộ tộc hùng mạnh, sau bao cuộc chinh phục đất đai mà chỉ rộng chừng vài ba trăm ngàn dặm.  Còn chung quanh toàn là đất của Di, có thể nói suốt từ bờ Thái Bình Dương đến mạn Nam Trung Quốc đều là đất của Di. Khối lớn lao đó gồm hàng vạn nước mà sử thường gọi là “vạn quốc chư hầu”, mỗi nước chỉ bằng một tổng hoặc huyện bây giờ. Rồi cứ bộ tộc này mạnh thì thôn tính bộ tộc khác để sát nhập thành một nước lớn hơn. Tất cả còn chung một nền văn hóa cổ, không có chi phân biệt: huyền thọai mang nét Lưỡng Hợp, anh em kế nghiệp tộc trưởng, khi múa mang lông chim.

     – Nhà Chu kéo dài 897 năm (1122-225 trước T. L.), phát xuất từ Tây Di, họ Cơ, thuộc bộ tộc Nhung (hoặc Khương). Đến thời nhàChu số bộ tộc còn lại từ vạn quốc là 160. Xem trong bản đồ Kinh Thư của Legge (quyển IV, trang 126) địa vực nhà Chu chỉ quanh quẩn bên sông Hoàng Hà, tức là địa phương Hà Nam, Trực Lệ, Sơn Tây, Hiệp Tây ngày nay, mà xung quanh còn vô số những bộ tộc của Di. Nhà Chu thuộc dân phía Tây Bắc thuộc về dân du mục hoặc bán du mục, hiếu chiến, phụ hệ, trọng võ. Sau khi chinh phục xong nhà Thương là một xã hội định cư, nông nghiệp, khi xếp đặt guồng máy cai trị nhàChu đưa vào văn hóa Di những yếu tố khác biệt.

     – Ý niệm Thiên Tử

     – Quân đội chuyên nghiệp

     – Luật hình

     – Hoạn quan

     – Trọng tay phải, ưa số 6, 8

     – Đàn áp đàn bà

     – Khinh miệt dân chúng, gọi là lê dân (dân đen đầu)

     – Chuyển tài sản từ làng xã sang tay nhà vua.

     Những yếu tố chính như thiên tử, hoạn quan, luật hình là yếu tố vay mượn bên miền du mục Lưỡng Hà như Perse, Assyria ngược hẳn lại văn hóa cổ, làm bẻ quặt Di Nho, nên sau này so với Di Nho, Chu Nho là văn hóa du mục.

     Và cũng từ đấy, thì xã hội bắt đầu phân biệt Tàu với Di Việt bằng cách coi khinh và chữ Di Địch mới hàm nghĩa “rợ mọi”, chứ trước không hề có thế, vì Tàu đều xuất phát từ Tứ Di cả, nhưng khi chinh phục được Tứ Di rồi thì quay lại khinh dễ gốc của mình. Rồi nhờ có quân đội nên bờ cõi mở rộng, tạo thành một nước có vua, với uy quyền tuyệt đối của “Con Trời” (Thiên Tử). Sau đó để duy trì uy quyền của nhà vua, luật pháp đặt ra để thay thế cho tục lệ của thời bộ lạc. Hình pháp để trị tội kẻ phạm luật thay cho văn hóa của tục lệ. Văn tự đã có từ thời trước như chữ con quăng và chân chim, tuy phát triển nhưng dùng để củng cố uy quyền của nhà vua và luật pháp. Vua xưng là “Thiên Tử”, con trời, có thiên mệnh, và từ đó lễ nghĩa của vua quan và giới quyền quí ra đời phân cách giữa văn hóa của giới triều đình vua quan với văn hóa thôn quê của nhân dân. Nền văn hóa của giới triều đình ở tại lễ nghi, phẩm chất trá ngụy. Nền văn hóa Di Nho trọng nhân dân, nơi những người nhà quê ít học hành, chữ nghĩa, đơn giản, nhưng lại trọng tình cảm và nhân nghĩa. Hai nền văn  hóa bác học và bình dân chỉ phản ánh hai mặt khác biệt quá độ của một nền văn hóa nguyên thủy. Đó là Nguyên Nho. Hay nói cách khác, Nho là văn hóa chung của thời đại, nhưng triều đình vua quan trọng Lễ, vỏ của Nho. Trong khi nhân dân trọng cái ruột của Nho, đó là Tình.

     – Nhà Tần kéo dài 49 năm (255-206 trước T. L.), nhưng khi chiếm toàn cõi nước Tàu, nhất là Sở, Việt, Ngô và xưng là Tần Thủy Hoàng Đế từ năm 221 trước T. L. Tuy thời gian cai trị ngắn, nhưng đã để lại một hình ảnh nước Tàu to lớn, thống nhất nên từ đó mọi người vướng vào hình ảnh này mà quên đi những quãng đầu lúc nước Tàu còn nhỏ bé. Từ Tần Thủy Hoàng nước Tàu vẫn không có tên nước, vẫn phải mượn tên Tần để gọi nước. Người Tàu đọc Tần là Tsin, thành ra Chine, China. Tần là một trong Tứ Di, nhưng vì tiếp cận với du mục quá lâu nên theo hướng du mục chuyên chế, tàn bạo, không hợp với vương đạo, nên chấm dứt sớm.

     – Nhà Hán (206-32 trước T. L.), cũng phát xuất từ Tứ Di, miền Giang Tô. Khi mới lên ngôi còn tế Ly Vưu và xưng mình là Hán Man. Chữ Hán là hình dung từ chỉ cao sang vinh hiển, chứ không là tên dòng tộc nào, y như chữ Hạ và Hoa cũng thế. Vì Tàu chỉ từ Tứ Di mà ra nên không có dòng tộc riêng và không có tên riêng. Do đó Tàu chỉ như một thực thể chính trị, văn hóa chứ không có nghĩa chủng tộc nào. Đến đời nhà Tần vì Tần nổi quá nên người Mông Cổ gọi Tàu là Tần và đó là hình ảnh của nước Tàu cho đến nay mà thôi. Nhưng điều này chứng tỏ Tàu không là một chủng tộc riêng mà chỉ do Tứ Di phát xuất. Điều này đã thành hiển nhiên khi xem mấy vị thủy tổ như Phục Hi, Nữ Oa đều xuất thân từ Di, miền châu thổ sông Hoài.

IMG.800…..

Hết: Nguồn Gốc Văn Hóa Việt Và Sự Thành Lập Nước Tàu Xem Tiếp : Ngôn Ngữ Của Kẻ Chiến Thắng

Tìm Kiếm